Tại Vùng Vịnh
Lư Hồng Chí
Tôi sẽ ngồi đây để mọi người có thể thấy tôi. (Vỗ tay)
Từ xa xôi nhiều
người đă vội vă đến đây và lái xe
từ sáng sớm hôm nay. Tôi
biết hiện nay ở đây có nhiều người
đang tu luyện và tôi cũng muốn đến Mỹ
Quốc để xem. V́
nhiều lư do khác nhau mà tôi không có cơ hội đến
đây. Lần này tôi có thể
gặp chư vị và đây cũng là v́ nhân duyên. Học được công pháp này
cũng là v́ nhân duyên. (Vỗ
tay) Tôi dự định
đi giảng ở Houston [
Kiến thức của chư vị về pháp môn này và về Pháp này th́ khác nhau, hiểu biết của chư vị cũng thế. Nhưng dù là trường hợp nào, bởi v́ điều mà tôi truyền là một môn tu luyện của Phật Gia, nên tôi sẽ dùng một số danh từ của Phật Gia: thọ được Pháp chính là v́ nhân duyên. Bây giờ chư vị không biết nó trân quư thế nào. Khi chư vị nhận ra rằng nó trân quư, chư vị sẽ cảm thấy là may mắn nhất. Thật ra, các nguyên lư này và những điều chỉ đạo con người tu luyện mà tôi giảng chưa có ai từng giảng ra công chúng từ hơn hằng trăm hay hằng ngàn năm qua, đến cả từ các niên đại xa xưa. Trong toàn lịch sử chưa có ai giảng về những điều này. Khi chúng tôi nói về tu luyện, chư vị sẽ nghĩ đến nhiều người tu luyện trong quá khứ trong môi trường đặc thù ở Trung Quốc. Thật ra th́ những người tu luyện đó vẫn c̣n đó, và có rất nhiều người tu luyện rải rác khắp nơi trên toàn thế giới. Luôn vẫn có người tu luyện những nơi vắng người và tất cả những người này cũng khá già rồi. V́ để tránh xa thế tục và không liên hệ với người thường, cho nên người thường không biết về họ.
Khoa học và kỹ thuật hiện đại đang phát triển, và khi con người càng chú trọng vào những điều thực tại, th́ lịch sử chân chính của con người và những điều chân thật đang dần dần bị loại bỏ qua một bên. Trong thời hiện đại, mỗi khi người ta nói về những điều này, luôn luôn dường như là họ nói chuyện hoang đường, nhưng trên thực tế th́ họ không nói thế. Tại sao các tôn giáo chính thống và nhiều truyền thuyết cổ xưa đă tồn tại hằng bao nhiêu ngàn năm mà không suy? Phải có lư do. Trong xă hội nhân loại b́nh thường, có rất nhiều rất nhiều hiện tượng không giải thích được – và chúng ta gặp, nghe về chúng, hay chính ḿnh tự cảm thấy – và cũng không thể giải thích chúng theo cách nghĩ hay giảng theo lư thuyết của khoa học ngày nay. Đây chính là v́ khoa học không phát triển đủ, cũng không đạt đến mức độ phát triển cao của nó. Thật ra, tôi nó rằng những điều đó tất cả đều tồn tại. Chỉ có là con người ngày nay quá tin tưởng vào khoa học, một khoa học mà không tiến bộ cho lắm, v́ thế mà không thể đột phá không gian này với khoa học để nh́n thấy sự thật.
Khoa học và kỹ thuật ngày nay, mặc dù con người nghĩ rằng họ khá phát triển, trên thực tế so với chân lư của vũ trụ th́ phát hiện rằng họ thiếu phát triển. Con người nghĩ rằng máy điện toàn rất là tiến bộ, nhưng dù nó có phát triển thế nào, thật ra cũng không so sánh được với năo bộ của con người; năo bộ của con người luôn sẽ là một bí mật đối với con người. Trong tương lai, nhiều người qua chính mính học Pháp và chính ḿnh tu luyện mà khai công khai ngộ, hay Viên Măn, đến lúc ấy th́ sự hiểu biết của họ về sinh mệnh, về vũ trụ và về vật chất sẽ xuyên thấu qua các tầng nhỏ và các tầng bao la rộng lớn.
Cũng như chư vị biết, khi nói về vật chất, th́ các lạp tử vi quan mà cấu thành lớp phân tử lớn hơn, tiếp đó lớp lạp tử lớn hơn lại cấu thành lớp phân tử lớn hơn nữa, cho đến khi h́nh thành bề mặt vật chất. Nó cũng giống như chất nơ-tri-nô cấu thành hạt quark, rồi thành hạt nhân, rồi thành nguyên tử. Lớp vật chất mà cấu thành phần bề ngoài nhất của con người – là các phân tử ở bên ngoài – là do đủ loại vật chất vi tế hơn cấu thành. Các khoa học gia ngày nay chỉ biết về cấu kết của các phân tử vi tế - phần nhỏ nhất mà có thể nh́n thấy qua kính hiển vi. Họ biết về sự hiện hữu của phân tử, sự hiện hữu của nguyên tử, v…v, và đến tận nơ-tri-nô; xâu hơn nữa th́ họ không thấy rơ, dùng dụng cụ cũng thế. Nếu có một kính hiển vi mà có đủ sức mạnh để trác định cả một vùng bán kính to và nếu những ǵ nh́n thấy được không phải là phân tử hay vài phân tử, thay vào đó mà là một lớp do các hạt tử vi quan cấu thành, th́ có nghĩa là nhân loại đă nh́n thấy các không gian khác. Bao nhiêu niên đại mà con người cũng vẫn chưa thoát ra khỏi các ṿng khuôn tư tưởng này, họ chỉ chú tâm quan sát vào một hạt tử hay vài điểm của các hạt tử vi tế. Họ chưa vượt qua khỏi cái khái niệm theo thói quen và liên kết chúng vào để nh́n thấy toàn bộ của tầng lớp hạt tử vi tế như thế nào. Đó là những ǵ mà chúng tôi gọi là các không gian khác. Giản dị như thế. Hiện tại những điều này chưa được đột phá ra; kỹ thuật hiện đại chưa đạt đến tầng thứ đó.
Vừa qua tôi đă dùng
tư tưởng và ngôn ngữ của nhân loại hiện
đại mà giảng về những điều này, và
đây là những điều mà nhân loại muốn
biết nhưng không được phép biết. Chưa có ai đă từng tiết
lộ chân lư của vũ trụ cho nhân loại, và trong quá khứ
nhân loại cũng không được phép biết. Nguyên nhân là v́, thể theo luật
của thiên đàng, nhân loại từ các thiên giới
tại các tầng thứ rất cao đă liên tục
rơi xuống nơi xă hội người thường
này. Nói một cách khác, họ đă rơi xuống
quả địa cầu.
Trong giới tu luyện, thuyết tiến hóa của
V́ nhân loại ngày nay đă bị khoa học hiện đại niêm phong thật kín, các chân lư này đều là “mê tín” đối với họ. Nhưng đến cả những ǵ gọi là mê tín, một khoa học gia, hay một người có trí tuệ th́ nên tự ḿnh điều tra những điều này để xem tại sao những điều như thế là mê tín và tại sao người ta mê tín; tuy thế hiện tại hầu hết không ai dám đụng chạm đến những. Tôi nghĩ rằng hoàn cảnh ở Mỹ th́ tốt hơn, bởi v́ ở đây tư tưởng của con người không bị giới hạn cho lắm. Cũng nói là, cái gông cùm do khoa học hiện đại theo lối kinh nghiệm tạo ta, đă khiến cho nhân loại phong kín tư tưởng của chính ḿnh. Cho nên rất khó mà biết được sự thật về sinh mệnh, về vũ trụ, và về vật chất.
Một người có
thể nh́n thấy được chân lư trong vũ trụ
qua tu luyện, nhất là với Phật Pháp. Nhưng hiện tại con người
chỉ tin vào khoa học hiện đại, nghĩ
rằng tất cả những điều đó là
thuộc về tín ngưỡng hay là tôn giáo chứ không
phải là khoa học. Nhưng
trên thực tế đó là cách duy nhất mà con người
hiểu được vũ trụ.
Tất nhiên, tôi dùng h́nh thức khí công để truyền Pháp này, trên thực tế những ǵ bao gồm trong đó là rất to. Đây là những điều mà trong lịch sử chưa có ai từng giảng, tuy thế tôi lại tiết lộ ra cho chư vị. Nếu chư vị có thể chuyên tâm mà đọc sách Chuyển Pháp Luân, chư vị sẽ phát hiện là nó trân quư vô cùng. Có nhiều và rất nhiều bí mật tiết lộ ra trong đó, đến cả chỉ đọc sơ qua thật nhanh cũng mang lợi ích rất nhiều cho người đọc. Nói chung, người này [đă đọc sách] sẽ biết làm một con người tốt là sao. Tuy nhiên, người không muốn tu luyện sẽ không nh́n thấy nội hàm của sách Chuyển Pháp Luân hay các chân lư cao hơn. Nhưng những ǵ bên trong quyển sách này th́ rất là to lớn và có thể giúp một người tu luyện đến Viên Măn. Và c̣n hơn đạt Viên Măn nữa – nó cho phép một sinh mệnh thăng hoa đến cảnh giới c̣n cao hơn nữa.
Cũng như chư vị biết, tu luyện là khác với giữ ǵn sức khoẻ. Nếu tôi muốn truyền pháp môn này cho chư vị chỉ là để giữ ǵn sức khoẻ, th́ tôi sẽ không truyền một Pháp to lớn như thế. Tôi làm chính là v́ tôi muốn tất cả chư vị đắc được Pháp này, là truyền các chân lư của vũ trụ này cho chư vị, là giúp chư vị tu luyện và cải thiện chính ḿnh để chư vị đạt đến các tầng thứ cao hơn và có thể thăng hoa lên được. Nếu trong tiến tŕnh tu luyện, chư vị làm được những ǵ tôi đề ra, th́ sách này sẽ chỉ đạo chư vị đạt được mục tiêu đó. C̣n người mà không muốn tu luyện sẽ không thấy được tất cả điều này. Tại sao họ không thấy được? Thường th́ khi một người đọc sách lần thứ nhất, họ sẽ phát hiện là sách giảng về các nguyên lư làm người tốt là sao. Khi họ đọc lần thứ hai th́ không c̣n giống nữa; lúc ấy họ sẽ phát hiện rằng đây là một quyển sách về tu luyện. Khi họ đọc đến lần thứ ba – khi thật sự có thể đọc sách 3 lần liên tiếp – sau đó có lẽ họ sẽ không muốn bỏ sách xuống. Họ sẽ cầm sách và đọc mỗi khi họ có th́ giờ, và họ phát hiện đây là một quyển sách siêu phàm.
Sách Chuyển Pháp Luân có nội hàm của tầng thứ cao như thế, nhưng nó không hiển nhiên đối với người mà chỉ nh́n quyển sách này từ bề ngoài. Cũng cùng một câu, chỉ sau khi chư vị đề cao rồI, th́ khi chư đọc sách chư vị mới phát hiện rằng câu đó có hàm nghĩa khác với lần trước, và đó là nội hàm tại tầng thứ khác rồi. Nhất định là như thế. Không có sách nào làm được như vậy, bởi v́ không có sách nào là sách tu luyện cả và các sách đó chỉ giới hạn trong các lư thuyết của người thường. Tuy thế Pháp này th́ vượt hẳn các lư thuyết của người thường, cho nên nội hàm là vĩ đại. Dù sao th́ cũng là về tu luyện. Phật Giáo gọi là “Tu là tu từ người thường.” ở đây tôi gọi là “Thế Gian Pháp tu luyện”, cũng được gọi là “tu thân” người. Trong giai đoạn này, mọi mặt của con người đều phải được hoàn thiện. Trong quá khứ dường như những ǵ đă được ghi vào sách tu luyện đều là về tu thân, dù rằng nó không rơ nhưng cũng đă giảng về những điều này.
Nếu một quyển
sách chỉ đạo chư vị chỉ trong Thế Gian
Pháp tu luyện, th́ chư vị không thể tu vượt
ra ngoài Tam Giới. Cho nên
quyển sách đó phải bao hàm các nguyên lư về tu thân
người cùng với các nguyên lư của các tầng
thứ khác nhau của Tam giới, cho đến các nguyên lư
vượt ra ngoài Tam Giới.
Người tu luyện chỉ có thể tu luyện
đến một tầng thứ đặc định
với sự chỉ đạo của các nguyên lư của
tầng thứ đó, và chỉ khi nào có các nguyên lư chỉ
đạo cao hơn th́ chư vị mới tu luyện
đến các tầng thứ cao hơn. Nói một cách khác, chính là phải
có các nguyên lư vượt ra ngoài Tam Giới chỉ
đạo trước khi chư vị có thể tu lên các
tầng thứ ở ngoài Tam Giới. Cũng giống như tôi nói
về đi học. Nếu
chư vị không có nội hàm bao rộng chỉ
đạo, chư vị không thể tu luyện
được – ư tôi giảng là thế. Pháp mà tôi đang truyền hôm nay
th́ khác với những ǵ các thầy khí công truyền,
bởi v́ những thầy khí công đó chỉ dạy người
ta những ǵ liên hệ về chữa bệnh khoẻ
thân. Ở đây tôi không nói là
tầng thứ của các thầy khí công đó không cao, hay nói
rằng họ không tốt, v…v.
Ư của tôi không phải thế. Tôi nói rằng chưa có ai đă
từng làm sự việc này.
Tôi biết hiện nay chỉ có một ḿnh tôi làm.
Truyền Pháp chân chính là
khó làm.
Trong tầm nh́n của một vị Phật, tất cả sinh mệnh là đang đau khổ. Chúa Jê-su giảng rằng: không những chỉ thương bè bạn, mà c̣n phải thương kẻ thù của ḿnh. Các vị ấy từ bi đối với tất cả sinh mệnh, bởi v́ họ cứu độ con người thế gian. Thế th́, là một người tu luyện, nếu trong tiến tŕnh tu luyện cá nhân chư vị không thương được người thường mà đă từng công kích chư vị, th́ chư vị không thành Phật được. Sự thật là thế, bởi v́ người tu luyện là phải từ bi. Từ bi có nghĩa là gạt bỏ đi tất cả những ǵ trong quá khứ và gạt bỏ những đau khổ của người thường, tức là không dích mắt vào bất cứ điều ǵ có liên hệ với người thường, không truy cầu danh lợi của người thường, buông bỏ chấp trước của con người. Có nghĩa là xem nhẹ tất cả những ǵ liên hệ với người thường trong khi chư vị tu luyện, thoát ly được khỏi những thứ đó là cách như thế.
Tất nhiên, các yêu cầu mà tôi đề ra ở đây có thể hơi cao hơn b́nh thường một chút, bởi v́ điều tôi truyền không phải là khí công b́nh thường mà chư vị t́m nơi người thường. Đây là tu luyện chân chính, mặc dù nó không tách rời khí công. Tại sao thế? Bởi v́ tại một tầng thứ cao, khí công là tu luyện, chắc chắn là thế. Chỉ có là các môn khí công mà đă được truyền trong xă hội, tất cả đều là tu luyện của tầng thứ thấp nhất – mục đích là để trừ bệnh khỏe thân, không ǵ khác hơn. Điều tôi truyền là thử thách vô cùng to lớn, cho nên không phải trong một phút nhiệt t́nh mà suy ra và làm được.
Khi tôi nói là nó rất khó khăn, tôi nói với chư vị rằng rất khó cho tôi truyền và rất khó cho chư vị đắc được nó. Nhiều người trong chư vị ngồi đây là v́ duyên phận, có thể là duyên phận rất to. Một số người có thể nghĩ rằng không có ǵ xẩy ra ở đây là b́nh thường [chư vị có thể nghĩ,] “Tôi t́nh cờ nh́n thấy quyển sách này,” “Tôi t́nh cờ học Pháp này,” Tôi t́nh cờ biết có người tập công này,” hay “Tự nhiên tôi bắt đầu học công này sau khi một người bạn giới thiệu cho tôi.” V́ xă hội người thường ở trong trạng thái mê, không phải như thể là các vị thần đột nhiên bay trên đầu chư vị và bảo chư vị đến học Pháp này. Không phải thế, bởi v́ làm thế th́ sẽ phá vở cái mê ăo này trong xă hội người thường. Mê ăo bị phá vở rồi, c̣n ǵ mà ngộ, nên cũng khó mà tu luyện. Đó là tại sao dường như nhiều người vô t́nh mà gặp, trên thực tế th́ không hẳn là t́nh cờ.
Khi tôi nói với các học viên ở Trung Quốc, tôi bảo rằng nhiều người không nhận ra điều này. Tức là, chư vị có thể cảm thấy rằng, giống như bất cứ điều ǵ trong cuộc sống b́nh thường của chư vị, t́nh cờ chư vị tham dự khóa giảng này, nhưng đúng ra là chư vị đă trải qua bao nhiêu gian khổ để đắc được Pháp này qua mấy đời, hay đến cả chục đời, hay hằng chục đời trước. (Vỗ tay) Chỉ có là chư vị không biết điều đó thôi. Một số người phải bỏ cuộc đời của họ để họ có thể đắc được Pháp này. Trong khi chư vị tu luyện, tôi tha thiết và ân cần dạy bảo chư vị về thiện và chỉ đạo chư vị, bởi v́ tôi biết chư vị là ai trong lịch sử và tôi biết cho chư vị đă hy sinh rất nhiều để đắc được Pháp này hôm nay. Tôi sẽ làm chư vị thất vọng nếu tôi không dạy chư vị theo cách này.
Tất nhiên, điều tôi nói nghe khó hiểu, và nó là cao thâm. Thật ra khi nhân loại sống trong thế gian này, họ chỉ biết về những ǵ đă xẩy ra trong vài thập kỷ trong không gian hiện hữu này, chỉ biết một chút đó thôi. Nhưng một đời người không biến mất đi sau khi họ chết. Đến cả nếu họ rớt xuống địa ngục – đến cả họ rớt xuống đến tầng thứ 18 của địa ngục – cũng vẫn không phải là cuối cùng. Một sinh mệnh mà phạm tội to lớn sẽ rớt xuống những tầng thấp hơn nữa, nơi đó họ sẽ bị loại trừ và hủy diệt. Khi một người chết đi, chỉ có cái nhục thể bằng các lớp phân tử kết cấu thành sẽ lột ra, trong khi đó sinh mệnh thật sự của người ấy rời khỏi thân thể trong tíc tắc mà họ chết. Trước khi chết người ta sợ lắm, nhưng tôi có thể nói với chư vị rằng trên thực tế không có ǵ để sợ cả. Người ta hễ c̣n cái tâm người th́ sợ chết lắm. Cái tâm của con người là do các tế bào nhục thể kết hợp, hễ mà nó không c̣n hoạt động nữa, tức khắc người đó cảm thấy như được hồi sinh lại mới, hay giống như được giải thoát – có một cảm giác hưng phấn. Hơn nữa, thân thể cảm thấy nhẹ nhàng, không bị nhục thể ràng buộc nữa, cho nên tư tưởng của họ hoàn toàn khai mở. Tất cả những ǵ người ấy làm trong một đời hiện ra dường như là đă xẩy ra chỉ trong một phút vừa qua. Mỗi một chi tiết sẽ hiện ra trước mắt, không một chuyện nhỏ nào mà quên được, bởi v́ tâm của họ hoàn toàn khai mở. Trong tíc tắc đó họ sẽ biết ḿnh thật sự là ai, biết được những ǵ họ làm trong đời này là tốt hay xấu; giống như họ vừa tỉnh giấc sau khi ngủ.
Tất nhiên, điều tôi vừa giảng có lẽ là điều mà chư vị chưa bao giờ nghe qua, nhưng đó là sự thật. Về những điều này tôi biết rất nhiều, tôi cũng đă nh́n thấy rất nhiều. Nhất là có một điểm, đôi khi tôi nh́n xem các bác sĩ trong nhà thương t́m cách cứu một bệnh nhân, tôi thấy rằng người bệnh nhân đó đă chết rồI, trong khi đó người ta vẫn cố gắng để cứu họ. Hồn của người bệnh nhân đó đă rời khỏi thân và đi rồi. V́ khái niệm của hai thời gian không gian là khác nhau – tốc độ thời gian và cấu trúc của các không gian là khác với của bên con người chúng ta đây, một khi sinh mệnh đó thoát ra khỏi cái thân thể người, những ǵ xẩy ra trong cuộc đời của họ h́nh như là vừa mới diễn ra; cảm tưởng như là tỉnh giậy sau một giấc ngủ trưa. Và đó là cách mà Phật nh́n con người. Nhân loại ở trong mê và mơ hồ, một đời người rất ngắn và tạm bợ.
Tôi truyền Pháp này cho tất cả chư vị, dù là t́nh huống nào, chư vị có duyên phận mới đến để đắc được Pháp. Đây là những ǵ tôi nghĩ: v́ chư vị đắc được Pháp, chư vị cũng nên dùng thời gian rănh rỗi mà đọc sách sau khi đi làm về. Mọi người nên đọc sách thêm, xem tôi nói có đúng không. Nếu không th́ đừng học nữa. Tuy nhiên, nếu chư vị thật sự tha thiết đọc qua, không cần tôi n ói ǵ thêm nữa, chư vị cũng sẽ không bỏ xuống, v́ chư vị đă nh́n thấy các chân lư cao hơn trong sách và chư vị sẽ muốn đọc hoài. Nó vượt xa kiến thức con người. Ai cũng có Phật tính, miễn chư vị tiếp tục đọc sách, chư vị sẽ không muốn bỏ xuống.
Khi tôi truyền Pháp này, có lẽ tôi đă dùng theo cách suy nghĩ của người ở Trung Hoa Lục Địa, và quyển sách cũng đă được phối hợp theo cách ấy. Mặc dù nó khác với cách suy nghĩ hay nhận định sự việc theo cách của người Mỹ hay của người của các quốc gia khác, và mặc dù cấu kết tư tưởng bên ngoài và một người am hiểu xâu sắc thế nào, những ǵ được viết xuống là khác, nhưng trong tu luyện th́ hàm nghĩa của Pháp lư là giống nhau. Người từ địa phương nào, từ quốc gia nào, hay dân tộc nào, cũng có thể học được, cho nên miễn là chư vị đọc sách th́ hàm nghĩa là giống nhau. Đừng đào xâu vào những điều này trong khi chư vị học. Tôi nghĩ rằng chư vị có thể tiếp thụ được tất cả điều này, bởi v́ sự việc này không phải đă khởi đầu an bài chỉ trong vài ngày; mà đă được an bài dài từ lâu lắm rồi trong quá khứ.
Truyền Đại Pháp này ra công chúng đă làm náo loạn trời và đất. Hiện tại th́ nó không hiển nhiên nơi xă hội người thường, nhưng ở các không gian khác th́ là như thế. Chưa có ai trong lịch đă từng giảng chân lư của vũ trụ cho con người, chưa bao giờ. Chư vị biết, người như Lăo Tử, Thích Ca Mâu Ni, Jê-su, và những vị khác, chỉ truyền một phần Pháp lư của vũ trụ mà chính họ chứng được và ngộ ra. Các vị ấy chỉ giảng những ǵ họ hiểu biết, ngược lại Pháp của vũ trụ là vô biên. Có vô số kể các chư Phật mà quả vị c̣n cao hơn Như Lai, và Pháp mà họ đă chứng th́ c̣n to hơn nữa. C̣n có các sinh mệnh vô h́nh vượt xa tầng thứ của Phật, họ cũng có Phật tính. Vũ trụ không nhỏ như người trong tôn giáo tin. Hiểu biết của con người chỉ hạn chế trong cái xă hội con người này. Con người tin rằng những ǵ tôn giáo giảng là vĩ đại, nhưng trong tầm nh́n của chư thần cao hơn th́ không là ǵ cả.
Các nguyên lư mà tôi đă giảng có lẽ là to lớn hơn nữa, và tôi đă truyền nó cho con người – thật sự đây là lần đầu tiên trong lịch sử. Sự việc mà tôi đang làm đây là với h́nh thức của con người và với ngôn ngữ của con người. Tôi làm một điều vĩ đại nhất, và đă làm dưới h́nh thức tu luyện thấp nhất. Hiện tại, không có nhiều người ở Mỹ và các nơi khác ở Trung Hoa Lục Địa học, bởi v́ sự khác biệt trong ngôn ngữ và các môi trường khác nhau. Đa số người học ở Trung Hoa Lục Địa là đang tu luyện thật sự; cả hơn 10 triệu người luyện công mỗi ngày và tu luyện chính ḿnh; c̣n những người mà khi tập khi không, nếu mà tính th́ con số là hằng cả chục triệu người, và số người ở Trung Hoa Lục Địa mà biết về công pháp mà tôi đang truyền dạy là cả hằng trăm triệu người – khi nói đến dường như ai cũng biết. Nhưng tôi không muốn công pháp này trở thành chính trị, và tôi cũng không cho phép nó tham gia vào chính trị. Hễ một môn tu luyện mà có liên hệ vào chính trị th́ nó sẽ trở thành tà môn. Chúng tôi thuần khiết truyền pháp môn này trong người thường qua cách truyền miệng. Chúng tôi cũng không xử dụng công cụ thông tin như là báo chí, và chúng tôi cũng không công khai giới thiệu nhiều. Điều mà xẩy ra là khi một người tu luyện nhận thấy pháp môn này tốt, người đó mời những người khác đến học. Khi một người nhận thấy pháp môn này tốt, th́ họ sẽ giới thiệu cho gia đ́nh của họ. Mọi người biết rằng nếu ai mà không nhận thấy tốt th́ họ sẽ không nói với gia đ́nh họ đến học. Khi gia đ́nh họ thấy tốt, họ sẽ khuyến khích bà con và bạn bè của họ đến học. Và đó là cách mà pháp môn này truyền ra. Một điều nữa là tôi bắt đầu truyền dạy ở tầng thứ thấp nhất, dần dần tiến lên các tầng thứ cao hơn, tốn cả 2 năm. Sau đó mất thêm 2 năm nữa tôi mới thật sự truyền Đại Pháp. Cho nên tổng cộng là 4 năm, ở Trung Quốc hầu hết gia đ́nh nào cũng biết. Cũng mang ảnh hưởng to lớn ra nước ngoài, đến cả những người chưa tu luyện, mà nhiều người cũng nghe đến. Ảnh hưởng ở Đông Nam Á có lẽ là to hơn ở Mỹ, và rất nhiều quốc gia khác đă thành lập các trung tâm phụ đạo, các Hội Pháp Luân Đại Pháp, các Đoàn Thể Pháp Luân Đại Pháp, v…v. Chúng tôi nh́n thấy chiều hướng phát triễn rất nhanh.
Ở đây tôi muốn nói chư vị một điều. Theo lời của Đức Thích Ca Mâu Ni giảng, ngay bây giờ chính là thời Mạt Pháp, thời mà [Pháp] không c̣n tốt nữa. Tức là không c̣n Pháp nữa. Đức Thích Ca Mâu Ni giảng rằng Pháp mà ngài truyền không thể cứu độ người nữa sau khi thời Mạt Pháp bắt đầu. Tất nhiên, nhiều ḥa thượng không thể tu thành là v́ họ không biết làm sao tu luyện; họ không c̣n hiểu kinh Phật nữa, hay hiểu được hàm nghĩa thật sự của kinh Phật. Cho nên rất khó mà tu luyện bây giờ. Hiện nay có nhiều người học Đại Pháp. Tôi có thể nói với chư vị rằng không có hiện tượng nào trong xă hội con người là ngẫu nhiên cả. Có rất nhiều người đến học. Nó sẽ không như thế nếu không có sự an bài của một thiên tượng đặc định, đúng không? Tôi nói cho chư vị biết chắc chắn là có lư do.
Nhân loại nằm trong luật tương sinh tương khắc; hễ có chính là có tà. Cho nên, để đối ứng với phát triển của chúng tôi th́ cũng có các môn khí công giả nổi lên rất nhiều trong xă hội ngày nay. Ở bề ngoài, v́ tiền và danh mà thúc đẩy người ta làm những điều đó, nhưng trên thực tế rất nhiều người này họ là yêu ma tà ác tái sinh ở đây để gây náo loạn cho thế giới này. Đức Thích Ca Mâu Ni giảng rằng thời ngài truyền Pháp của ngài, ngài nh́n thấy trong xă hội nhân loại có “năm trụy lạc”. Trên thực tế xă hội ngày nay c̣n phức tạp hơn thời đó nữa: nó có cả “mười trụy lạc” và các tà giáo th́ có rất nhiều.
Tôi muốn giảng rơ ra rằng ở đây chúng ta nhất định không được thành lập một loại tôn giáo có tổ chức. Nếu chư vị muốn đến học pháp môn của chúng tôi th́ cứ đến, và nếu chư vị không muốn học th́ cứ đi – hoàn toàn là tự nguyện. Giả như chúng tôi ép buộc chư vị đến học, chúng tôi ép chư vị học, và bắt chư vị học; và hễ chư vị bắt đầu rồi, giả như chư vị không được phép bỏ đi và phải ở lại với chúng tôi. Cũng như chư vị phỏng đoán, làm thế là làm điều tà. Nếu là một môn tu luyện chân chính, th́ phải chính là cá nhân đó muốn học. Nếu chư vị bắt buộc họ tu, họ có tu được không? Nhất định là họ không tu thật sự. Người mà có thể tu luyện chỉ khi nào họ thật sự muốn tu. Cho nên ép buộc ai tu cũng vô ít thôi. Chúng tôi không làm như thế. Nếu chư vị muốn học th́ cứ học. Và nếu chư vị muốn học chúng tôi sẽ có trách nhiệm với chư vị. Không kể là duyên phận của chư vị thế nào, nếu chư vị muốn học tôi sẽ có trách nhiệm với chư vị. C̣n nếu chư vị không muốn học chư vị tự do muốn làm ǵ th́ làm tùy ư.
Mục đích tôi truyền Pháp này là để trao cho mọi người những điều tốt này và mang tin tốt cho chư vị. Nhiều người trong chư vị thật sự có duyên phận và nên đắc được Pháp này; chư vị đă chờ đợi để đắc được Pháp này. Nhân loại đă tiến đến giai đoạn vô cùng hỗn loạn này, đạo đức của toàn bộ xă hội đang trượt xuống. Nhiều người cho rằng tai họa chắc chắn sẽ xẩy ra. Trong khi đó tôi có thể nói với chư vị rằng trong hiện tại chuyện đó không có, đà trượt dốc này đă mang hiễm họa đến cho nhân loại. Như thế nào? Hăy suy nghĩ: chuyện ǵ đă xẩy ra cho xă hội ngày nay? Các hiện tượng bại hoại nhiều không đếm hết. Một con người – tại sao được xem là con người? Nếu con người sống trong thế giới này, họ phải sống thể theo tiêu chuẫn và qui tắc của loài người, chỉ lúc ấy họ mới được gọi là “con người”. Nếu không, chư vị không được xem là con người. Không phải là nếu chư vị v́ có cái đầu và tay chân th́ chư vị là con người. Khỉ cũng có tay chân, nhiều sinh linh trong các không gian khác cũng giống như con người nhưng lại không được gọi là con người. Đó là v́ con người có tiêu chuẫn cho hành vi và đạo đức, cùng với cả quy tắc đạo đức, nên họ mới được làm người. Nếu con người loại bỏ các quy tắc của đạo đức con người – tức là, loại bỏ tiêu chuẫn đạo dức mà đă đề ra cho con người – và trở thành thú vật, th́ Trời sẽ không xem con người là con người nữa, mà xem là thú vật. Đến lúc ấy loài người sẽ phải đối diện với viễn cảnh kinh hoàng.
Tại sao lại có viễn cảnh kinh hoàng? Hăy suy nghĩ: đây là không gian của nhân loại, chư thần tạo ra trái đất này đặc biệt cho con người chứ không phải cho thú vật. Cho nên nếu là như thế, mặc dù chúng ta có thể thấy rất nhiều người xấu trong hiện tại dám làm điều xấu, có lẽ hậu quả dành cho họ là hoàn toàn hủy diệt. Có nhiều loại người và có nhiều người th́ tốt hơn trung b́nh nhưng cũng trên đà trược xuống. Hiện tại, khi một người không thể tu luyện, nhưng khi tôi dạy sự thật cho họ, họ thức tỉnh và nhận ra rằng nhân loại đă trở thành ǵ rồi, kết quả là họ không trượt xa xuống nữa và không gây hậu quả kinh hoàng cho chính bản thân họ.
Hễ tôi giảng th́ tôi
cứ giảng một mạch khá lâu, bởi v́ tôi luôn luôn
muốn cho chư vị biết về những sự
thật này. Bởi v́ tôi
sẽ đi dự buổi họp ở
Một số người trong chư vị dường như là từ xa đến và không ai muốn rời đi cả.
Học viên: Thưa Thầy chúng con có thể chụp h́nh không?
Thầy: Được, chư vị có thể chụp.
Học viên: Chúng con có thể hỏi không?
Thầy: Hăy làm như thế này. Chúng ta không thể kéo dài lâu quá, nhưng tôi sẽ cho chư vị thêm nửa giờ nữa. Tôi sẽ trả lời một số câu hỏi của chư vị. Nhưng tôi có một điều kiện, đó là chỉ nêu các câu hỏi có tính đại biểu và thật sự làm chư vị thắc mắc. Đừng hỏi những câu mà có thể t́m được câu trả lời qua đọc sách. Tôi nói điều này là v́ có rất nhiều người ở đây. Nếu mỗi người đều đưa lên một câu hỏi, th́ thậm chí đến 2 tiếng đồng hồ cũng không trả lời hết. Có phải thế không?
Học Viên: Con có thể hỏi một câu?
Thầy: Được, được.
Học
viên: Con đă đọc sách của Thầy và con
đang học Pháp. Con mách với bạn bè và bà con
của con về pháp môn này. Họ quan tâm là v́ họ
đă từng là tín đồ Phật Giáo. Tất nhiên,
nhiều người bạn th́ là tín đồ Cơ
Đốc Giáo. Họ lo rằng nếu họ học
Pháp Luân Công, th́ họ có c̣n tiếp tục niệm kinh hay
đi nhà thờ như trước nữa không?
Thầy: Được, tôi sẽ giải thích. Điều chư vị hỏi là nếu một người có tín ngưỡng khác có thể học Pháp Luân Công và có bị can nhiễu không. Thật ra th́ tôi có giảng những điều này trong sách của tôi rồi, nhưng tôi cũng có thể giảng lại một lần nữa.
Tại sao thế? Hiện nay
người ta không hiểu; miễn là một vị
Phật là họ sẽ thờ phụng, miễn là một
vị Phật th́ họ không quan tâm là vị ấy từ
môn nào và họ sẽ thờ phụng tất cả.
Đây là nguyên nhân chủ yếu mà ngày nay các ḥa
thượng không tu thành. Sự thật, mỗi
một vị Phật chủ tŕ một thiên giới riêng,
và mỗi một thiên giới th́ có một vị Phật
Như Lai. Ví dụ, Phật Dược Sư th́
chủ tŕ Lưu Lư Thế Giới; Hoa Nghiêm Thế Giới
th́ có Hoa Nghiêm Như Lai; Liên Hoa Thế Giới th́ có Liên Hoa
Như Lai; và Thế Giới Cực Lạc th́ có Phật
Như Lai A Di Đà, v.v. Mỗi một vị Phật
Như Lai th́ có một bộ phương pháp tu luyện
riêng của họ, các nguyên lư căn bản mà mỗi
một vị Phật chứng ngộ là từ Pháp lư
của vũ trụ. Tuy thế chứng ngộ và cách
tu luyện của mỗi một vị Phật Như Lai
là khác nhau. Tại sao thế? Như chư vị
có thể đă biết, khả năng của mỗi
một vị Phật là khác nhau, là v́ họ khác nhau.
Vị Phật này có khả năng này và vị Phật kia
có khả năng kia, nhưng tất cả đều cùng ở
trong một cảnh giới; chỉ có khả năng là khác
nhau. Nó giống như vào học đại
học.
Bây giờ nếu con người muốn lên một thế giới nào đó, Phật Giáo có thời đă đ̣i hỏi người tu phải thệ nguyện là về nơi đó. Ví dụ, có người nói: “Tôi muốn về Thế Giới Tịnh Độ, tôi muốn tu về nơi Phật A Di Đà ở và trở thành một sinh mệnh dưới sự trụ tŕ của đức Phật.” Có thể có người muốn tu thành Bồ Tát hay tu thành La Hán. Thế th́ sau khi chư vị phát lời thệ nguyện đó, chư vị chỉ tu trong môn phái của đức Phật đó, chỉ học kinh Phật A Di Đà, niệm danh hiệu của Phật A Di Đà. Và chư vị không được phép đọc các kinh khác. Đó gọi là “bất nhị pháp môn”. Nếu chư vị muốn về Thế Giới Hoa Nghiêm th́ chư vị không được đọc kinh nào khác ngoài Kinh Hoa Nghiêm. Con người nghĩ rằng tất cả lời giảng [của các môn tu luyện] là các nguyên lư của Phật Giáo và tất cả là tốt cho con người, nhưng đó chỉ là suy nghĩ của con người. Nếu chư vị không chú ư điều này một cách chặt chẽ, mọi thứ sẽ bị hỗn loạn. Một cuốn kinh bao hàm tất cả các nguyên lư mà một người tu luyện cần học, từ tầng thứ thấp nhất cho đến cao nhất. Chỉ có con người mới nghĩ rằng trộn lẫn các môn với nhau để mà tu là tốt.
Xă hội nhân loại đă bị phong kín lại rồi, tất cả chư Thần chân chính mà đă từng có trách nhiệm cứu độ con người không c̣n quản con người nữa. Họ không c̣n quản con người nữa bởi v́ họ xem con người ngày nay phẩm chất quá thấp, cho nên họ không c̣n muốn con người nữa hay muốn cứu độ con người nữa. Điều tôi giảng vừa qua, tức là khó khăn lắm tôi mới truyền được Pháp này, và rất nhiều Thần và Phật đă t́m cách ngăn cản không để tôi làm việc này. Họ nghĩ rằng con người ngày nay không c̣n cứu được nữa và cũng không nên giữ lại. Con người không biết điều này và vẫn cho rằng họ đang sống khá sung sướng. Con người không biết sự khác biệt to lớn giữa đạo đức của con người ngày nay và con người trong quá khứ; cũng không biết sự khác biệt to lớn giữa Thiên và Địa, không biết chư Thần và Phật xem con người ra sao, không biết trên Thiên Giới thuần tịnh thế nào, không biết các chư Phật cao quư và vĩ đại ra sao!
Sự sai biệt giữa nhân loại và thiên nhân thật sự vô cùng to lớn. Bầu trời dường như trong sạch đối với thế nhân, nhưng đó chính là v́ nhân loại nh́n sự vật qua cặp mắt do vật chất từ chỗ này cấu thành. Nếu nhân loại mà có khả năng nh́n loài người từ các không gian cao hơn, chính họ cũng sẽ phát hiện xă hội nhân loại cuồn cuộn trong những lớp nghiệp đen to lớn, nhơ nhớp kinh hoàng. Cho nên chư Thần và Phật không xem nhân loại như con người tưởng tượng. Con người được cứu độ là v́ chư Thần và Phật từ bi đối với con người. Không phải như thể là khi chư vị khen chư Phật, th́ chư Phật sẽ mang chư vị [lên thiên giới]; cũng không phải là chư Thần và Phật ban cho chư vị bất cứ điều ǵ chư vị muốn. Thực tế là, không kể là chư Thần hay chư Phật, các vị ấy không quan tâm đến h́nh thức khi nói đến tu luyện. Không kể là một tôn giáo to cỡ nào, cũng không tính đó là tu luyện. Chính tôi cũng truyền một pháp môn cho nhân loại, cũng không phải v́ để truyền một tôn giáo mà tôi làm. Chư Thần và Phật không thừa nhận tôn giáo, chỉ thừa nhận con người.
Người ta luôn nói rằng “Tôn giáo mà
tôi tin th́ tốt lắm.” Dường như
người này duy hộ chư Phật, hay duy hộ Jê-su
và các Thiên Chủ. Không phải thế.
Người này càng nhiệt t́nh với tôn giáo đó, th́
họ càng chấp trước vào đó; càng chấp
trước vào đó th́ người này lại càng xa
rời chư Thần. Tôn giáo chỉ là một h́nh
thức tu luyện do con người tạo ra. Không
kể nó là một tôn giáo trọn vẹn hay hoàn hảo
thế nào, nó cũng không so được với một
người mà tu luyện một cách hoàn hảo. Khi con
người chú tâm vào những điều này, chư
Thần và Phật vừa nh́n thấy liền cảm
thấy rất khó chịu. Chư Phật không xét h́nh
thức mà chư vị chấp nhận trong thế nhân
này. Có thể chư vị đă qui y rồi hay đă
rửa tội rồi, nhưng nếu chư vị vẫn
c̣n tâm con người th́ có khác ǵ đâu? Chư Phật
không xét những điều đó, họ chỉ xét là
chư vị có thật sự tu luyện bản thân ḿnh hay
không. Nếu chư vị đă qui y rồi hay đă
rửa tội rồi, và thậm chí chư vị cũng
không đốt nhang hay niệm danh hiệu Phật, tuy nhiên
chư vị giữ tiêu chuẩn do Thần và Phật
đề ra, và c̣n tinh tấn tu luyện chân chính, hễ
nh́n thấy chư vị họ đă vui rồi.
Có người nói “Tôi không bỏ kinh Phật được.” “Tôi không bỏ được kinh Thánh,” hay là “Tôi không bỏ niệm chú được.” Điều mà họ bỏ không được chính là tôn giáo chứ không phải là chư Phật. Hăy suy nghĩ một cách cẩn thận và nh́n xem. Đó là trường hợp của các tín đồ, chẳng phải sao? Tại sao họ không bỏ tôn giáo được? T́m cái nguyên nhân cội rể trong tâm chư vị và xét xem, tận sâu bên trong chư vị nh́n nhận vấn đề này ra sao. Với một số điều, thể hiện bên ngoài dường như là đúng nhưng không hẳn là đúng. Chỉ có chân chính tu luyện bản thân ḿnh th́ mới thật sự là tin tưởng Thần và Phật. Và đó là cách mà chư Phật xét vấn đề; họ không quan tâm đến một tôn giáo điều hành tốt thế nào. Cũng như chư vị biết, rất nhiều người trong lịch sử đă tu thành, nhưng họ không cần phải là người trong tổ chức tôn giáo nào. Nhiều người có uy đức rất lớn cũng không có tu trong tôn giáo. Họ giữ ḿnh theo tiêu chuẩn nghiêm khắc và kiên tâm làm người tốt. Và khi họ kiên tŕ giữ vững như thế qua một thời gian dài, ngày càng khá hơn, chư Phật trông nom họ và họ sẽ đạt Viên Măn.
Nguyên lư mà tôi đang truyền, rốt ráo là, bảo chư vị làm người tốt, làm một người tốt hơn, làm một người tốt vượt hẳn người thường. Khi chư vị làm được như thế, chư vị sẽ là một sinh mệnh cao hơn, và khi chư vị thăng hoa cao hơn chư vị sẽ là một sinh mệnh thậm chí trong cảnh giới cao hơn nữa. V́ thế, nếu một người như thế mà không được thăng lên thiên đàng, th́ người này c̣n có thể ở lại trên trái đất này không? Con người là ích kỷ và tranh đua, họ tranh đấu v́ danh v́ lợi. Có nghĩa là con người trên trái đất này là khác với chư vị. Sự thật là thế. Nếu chư vị nói chuyện với họ [các tín đồ tôn giáo] về khía cạnh này, th́ không kể là tôn giáo nào, hễ mà chư Thần đă bỏ nó rồi, th́ đó cũng chỉ là một h́nh thức xă hội nơi người thường và cũng chỉ là một công việc của người thường. Tôn giáo của họ thật sự không có tác dụng ǵ về tu luyện. Tuy nhiên, ở đây c̣n bao gồm một vấn đề về tính nghiêm túc trong tu luyện. Chuyên nhất tu luyện chính là chân tu. Nếu một người muốn học Đại Pháp của chúng ta, th́ họ có thể học. Bảo họ rằng dù là thuộc về tôn giáo khác cũng không can nhiễu với tu luyện trong Đại Pháp, nó có một vấn đề về sự nghiêm túc trong tu luyện. Bảo họ rằng sự liên hệ với tôn giáo của họ cũng không có ảnh hưởng ǵ, rằng sau khi họ đọc sách th́ họ sẽ hiểu. (Vỗ tay)
Học viên: Ngoài 5 bài công pháp mà Thầy giảng cho
chúng con, con thấy có một bộ thủ ấn, bộ
thủ ấn mà Thầy thực hiện.
Thầy: Trước hết,
để tôi giảng cho chư vị “thủ ấn” là ǵ.
Thủ ấn được xem như là một ngôn
ngữ của Phật, một h́nh thức diễn
đạt, mà khi chư Phật diễn đạt
điều ǵ và họ không muốn dùng ngôn ngữ, th́
họ dùng thủ ấn. Truyền cảm bằng
tư duy là được sử dụng giữa các vị
Phật với nhau. Khi chư vị nh́n thấy các Pháp
Thân của tôi, hay nh́n thấy chư Phật hay Bồ Tát
trong giấc mơ, khi họ nói chuyện với chư
vị, có lúc họ không dùng lời, nhưng chư vị
vẫn nghe được âm thanh. Đó là truyền
cảm bằng tư duy. Theo danh từ hiện
đại th́ gọi là truyền cảm tư duy qua âm thanh
lập thể. Thủ ấn thường
được dùng khi giảng Pháp cho nhiều Bồ Tát và
La Hán. Nó không phải là giống như ngôn ngữ kư
hiệu của con người; nó thiêng liêng, thuần
tịnh hơn và uy lực rất mạnh mẽ. Nó là
ngôn ngữ của Phật, cho nên khi thủ ấn
được dùng th́ nó mang năng lượng và uy lực,
và những ǵ vị Phật diễn đạt cho tất
cả chúng sinh bên dưới họ chính là Pháp.
Nhưng thủ ấn th́ giống như các lời
được giảng, và ngôn ngữ có thể phối
hợp trong nhiều cách khác nhau để diễn
đạt các ư nghĩa khác nhau. Mỗi một vấn
đề đều có thể được diễn
đạt từ các góc độ khác nhau, cho nên không cố
định hay có tiêu chuẩn. Tuy nhiên, có một bộ
thủ ấn đặc biệc dùng cho các bài công pháp;
tức là khi hai tay kết lại để h́nh thành một
thế, th́ đó gọi là một bộ thủ
ấn. Ví dụ, thủ ấn hoa sen [liên hoa thủ
ấn] và bộ thủ ấn mà chúng ta dùng để
tập các bài công pháp – nó là một bộ thủ
ấn. Thủ ấn dùng với cử động th́
khác với bộ thủ ấn bất động.
Thủ ấn mà tôi thực hiện trong khi tập các bài
công pháp trong băng h́nh là để cho phần “biết” của chư vị nh́n
thấy trước khi chư vị tập các bài công pháp,
và cho các sinh mệnh trong các không gian khác. Cho nên chư
vị không cần học bộ này. C̣n những ai trong
chư vị mà sau này tu thành Phật th́ sẽ biết
thực hiện chúng thế nào. (Vỗ tay)
Học viên: Thưa Thầy Lư, hôm nay Thầy có thể
hạ nhập Pháp Luân cho tất cả chúng con phải
không? (Vỗ tay)
Thầy: Để tôi nói với
chư vị, miễn là chư vị chân tâm tu luyện –
tức là, không kể chư vị đă đến đây
hay chư vị tự ḿnh đọc sách – tất cả
chư vị đều sẽ được một Pháp
Luân. Tôi cũng muốn nói rằng: nhất định
chư vị phải trân quư cuốn sách này.
Hiện tại có nhiều học viên đi khắp nơi t́m tôi, nhưng tôi không muốn gặp họ. Tôi không muốn gặp họ có một nguyên nhân, tức là, tôi muốn họ ở tại nơi đó và kiên định, vững vàng tu luyện chính ḿnh. Khi một số học viên gặp tôi th́ tâm của họ dễ bị kích động, và đó cũng là một can nhiễu cho sự tu luyện của họ. Tôi muốn tĩnh tâm tu luyện. Chỉ có việc truyền Pháp của tôi thôi, th́ không có tác dụng: chư vị phải đắc được Pháp và phải có th́ giờ để đọc sách, và tu luyện chính ḿnh một cách vững vàng. Đó là tại sao tôi cố gắng không gặp chư vị thường xuyên. Giả như trường hợp Pháp mà tôi giảng không thể chăm lo cho chư vị khi từng người không gặp tôi, th́ tôi làm việc này cũng uổng phí thôi. Cho nên, miễn là chư vị đọc sách, và miễn là chư vị thật sự tu luyện, chư vị sẽ đạt được tất cả những ǵ chư vị đáng được trong pháp môn này. Bảo đảm là như thế. (Vỗ tay)
Từ hàng ngàn năm nay các đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni tự ḿnh tu luyện qua các kinh Phật, và đă làm như vậy mà không được gặp Sư Phụ của ḿnh, đúng không? Pháp sẽ bao hàm tất cả những ǵ cần thiết cho những ai tu luyện chân chính. Thường th́ khi tôi hạ nhập Pháp Luân cho chư vị tôi không cho phép chư vị nh́n thấy. Đó là để loại trừ đi cái tâm chấp trước: chư vị không học công cho đến khi chư vị được ban cho điều ǵ.
Học viên: Thưa Thầy Lư,
Thầy nói rằng có các môn khí công thật và giả. Làm sao chúng con phân
biệt được giữa
cái thật và cái giả?
Thầy: Có các môn khí công thật và
giả, và thật ra người thường khó mà phân
biệt được, bởi v́ tiêu chuẩn mà con
người ngày nay nhận định về tốt và
xấu th́ khác với trước kia. Khi một
người thật sự tu luyện, dần dần
họ sẽ phân biệt được.
Trên thực tế, tội lỗi của họ là không nhỏ. Nếu một người có căn cơ rất cao, người mà đến để đắc Pháp, mà bị họ hủy hoại, tưởng tượng xem tội lỗi của họ to lớn chừng nào. V́ tiền tài mà họ làm điều tệ hại như vậy. “Kiếm tiền” không phải là cớ để phạm tội như thế. Khi khí công đạt đến cao trào ở Trung Quốc, toàn bộ các thầy khí công phần đông là truyền khí công miễn phí. Chỉ có các thầy khí công giả đă xuất hiện làm rối loạn. Có nhiều thầy khí công, lúc ban đầu khi ra công chúng rất xuất sắc. Trong mỗi một trường hợp đó đều là phó nguyên thần tu luyện, phần bên con người th́ không hay biết. Theo thời gian chấp trước về danh và lợi của người đó khởi lên. Trước khi họ ra công chúng, sư phụ của họ trông nom họ, theo đó có tác dụng khống chế của phó nguyên thần của họ. Nhưng, một khi họ tích cực hoạt động trong xă hội, phần con người của họ bị cám dỗ v́ danh v́ lợi của thế tục. Hễ mà họ ham muốn những thứ đó liền bị rơi xuống. Cho nên họ không có công, cho nên đến cả chính họ - các thầy khí công – cũng vẫn ngă bệnh.
Học viên: Con muốn hỏi Thầy: Nếu các
học viên
chúng con đạt Viên Măn, th́
chúng con đi về đâu?
Thầy: Tôi có Pháp Luân Thế Giới. Có rất nhiều thiên giới, tôi có thể giảng về các thiên giới này cho chư vị. Nhiều người ngồi đây dường như có học thức cao, theo cách nói của con người, nên tôi sẽ giảng ngắn gọn cho chư vị về khái niệm của vũ trụ.
Những ǵ nhân loại biết chỉ là một không gian này, và nó không giản dị như các tín đồ Phật Giáo hiểu biết về không gian. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni c̣n tại thế, từ trong Pháp căn bản của vũ trụ ngài đă chứng thực và giác ngộ ra rất nhiều chân lư. Người thời ấy không có ghi chép những điều này, cũng không thu thập và ghi chép trong kinh Phật. Cho nên các chân lư đó không có lưu lại cho người trong nhân thế. Cho đến 500 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni không c̣n tại thế th́ người ta mới biên soạn thành kinh. Như chư vị có thể h́nh dung được, 500 năm sau đó, quả thật là khó cho người ta nhớ lại chính xác những ǵ Thích Ca Mâu Ni giảng lúc c̣n tại thế, và đó là các kinh Phật mà chúng ta có hiện nay. Trên thực tế toàn bộ những kinh này đă khác với những ǵ Phật Thích Ca Mâu Ni giảng lúc ban đầu, mặc dù chúng cũng bao hàm một số Phật lư và cũng có thể áp dụng cho tu luyện. [Những ǵ bao hàm trong đó] chỉ là một vài điều mà con người được phép biết trong quá khứ, và các sinh mệnh trong không gian này chỉ được phép biết bao nhiêu đó thôi.
Vũ trụ không nhỏ như kinh Phật mô tả, cũng không giản dị như những người tu Đạo trong quá khứ giảng. Điều mà Đức Thích Ca Mâu Ni giảng vào thời ấy chính là La Hán Pháp và La Hán Pháp là mức quả vị thấp nhất. Tất nhiên, ngài đă giảng những điều cao hơn, nhưng chỉ một số rất ít được lưu lại. Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có giảng một điều lúc c̣n tại thế, đó là: con số Phật Như Lai là nhiều như số hạt cát ở sông Hằng và mỗi một vị Phật Như Lai chủ tŕ một thế giới. Thậm chí cái phạm vi mà ngài giảng cũng là vĩ đại đối với con người. Nhưng thật ra, chư vị cũng biết, các phân tử là do các lạp tử vi quan cấu thành, và nhân loại th́ sống giữa các phân tử và các tinh cầu. Trên thực tế, Hệ Ngân Hà chỉ là một lạp tử trong vũ trụ, và trong phạm vi trải rộng mà bao gồm vô số hệ ngân hà có một ranh giới và cũng có cái vỏ bên ngoài. Và đó là cái vũ trụ mà nhân loại nói đến. Nhưng trên thực tế, đây chỉ là một vũ trụ nhỏ. Cái ǵ nằm bên ngoài vũ trụ nhỏ này? Thậm chí khoa học hiện đại cũng không dám nghĩ đến, và thậm chí nhân loại cũng không có khái niệm về nó. Vũ trụ cũng không phải sinh ra từ một vụ “nổ lớn” (big bang).
Từ những nơi cực kỳ xa xôi vượt khỏi vũ trụ nhỏ này là các thiên thể giống như vũ trụ nhỏ này. Thần và Phật đều có tầng thứ, chư Phật tại các tầng thứ thấp hơn không thể nh́n thấy chư Phật tại các tầng thứ cao hơn. Trong tầm nh́n của chư Thần và Phật tại các tầng thứ cao hơn nữa th́ đây cũng chỉ là một phạm vi rất nhỏ. Nhân loại không thể khám phá được nó. Nhân loại biết về tốc độ ánh sáng, nhưng tốc độ ánh sáng không phải là nhanh nhất. Ánh sáng là do thời gian và không gian ước chế, chính thời gian và không gian cũng là do vật chất từ vũ trụ cấu thành. Tất cả những ǵ trong một không gian, lẫn cả ánh sáng, cũng là vật chất, và mỗi loại vật chất th́ đều có năng lượng. Mọi người đều sống trong không gian của lớp phân tử này. Như là không khí, gỗ, nước, kim loại, đất hay đá, tất cả đều là do các lạp tử tại lớp phân tử này cấu kết thành. Trong không gian này nhân loại không cảm giác được năng lượng phóng xạ từ các phân tử, bởi v́ nhân loại cũng là do các phân tử cấu thành. Nhưng trên thực tế phân tử cũng có năng lượng. Ánh sáng trong không gian nhân loại đây cũng có cái lớp lạp tử bên ngoài của nó. Điều tôi nói là, các không gian khác nhau có ánh sáng khác nhau, và các loại vật chất mà cấu thành ánh sáng trong các không gian khác nhau th́ cũng khác nhau. Và v́ sự khác biệt trong thời gian và không gian mà tốc độ ánh sáng trong đó cũng khác nhau. Cho nên, hăy nh́n sâu xuống: nguyên tử cũng có năng lượng, năng lượng của các hạt nhân nguyên tử th́ càng mạnh hơn, neutron (trung tử) th́ lại càng mạnh hơn nữa, và với điện tử, quark, và neutrino (trung vi tử), lớp kế tiếp th́ phóng xạ và năng lượng lại càng mạnh hơn lớp trước đó. Lạp tử càng sâu xuống, th́ năng lượng và phóng xạ càng mạnh. Xuống tận tầng của bản nguyên vật chất, lực lượng càng mạnh đến mức mà đối với nhân loại không cách nào có thể diễn tả nó được. Nhưng tất nhiên là, nhân loại vĩnh viễn không thể hiểu được bản nguyên vật chất.
Tôi vừa giảng về những điều này là để nói với chư vị rằng vũ trụ này không giống như nhận thức hạn hẹp của nhân loại về nó. Có bao nhiêu vũ trụ to nhỏ khác nhau trong vũ trụ? Con số là không tính được. Tuy nhiên, khi diễn tả trong một thể hệ vũ trụ nhỏ, th́ có thể nói theo cách này: khoảng 3000 vũ trụ nhỏ th́ cấu thành một vũ trụ lớp thứ nh́ có kích cỡ to hơn một chút, và cũng khoảng cùng một con số đó của vũ trụ lớp thứ hai th́ cấu thành vũ trụ lớp thứ ba. Theo cách thức cấu tạo thế này th́ đối với con người mà giảng th́ nó là vô tận. Thế th́ “thiên giới” to thế nào? Tôi có thể nói với chư vị rằng nhân loại vĩnh viễn không bao giờ phát hiện được thiên thể rốt cục to lớn đến thế nào. Đến cả Phật Như Lai cũng không thể giảng ra được. Nó giản dị là quá vĩ đại. Nó không phải như con người đă nhận thức ra với kiến thức của họ.
Nhiều người v́ thế mà đă h́nh
thành một quan niệm cố hữu. Nếu con
người của các thế hệ trước mà đă
phát minh ra một số định luật và học
thuyết, như là thuyết tương đối của
Einstein, con người lại xem nó như đỉnh cao
của khoa học. Tư tưởng của
người thế hệ sau bị hạn chế trong
phạm vi của những điều này, nếu ai dám suy
nghĩ cao hơn hay có ư vượt qua những
người đó trong nghiên cứu của ḿnh, tức
khắc sẽ có người nói “Quư vị thật sự
hơn được Einstein sao?” Tại sao
thế? Môi trường vật chất hiện
hữu của khoa học theo lối kinh nghiệm hiện
đại đang hạn chế con người.
Nếu một khoa học gia nổi tiếng mà hiểu
biết vượt hơn hiểu biết của các
thế hệ trước đây, vị ấy sẽ phát
hiện hiểu biết của các thế hệ
trước đây là thật và đúng trong lĩnh vực
của những vị đấy, một khi ai mà
vượt qua những hiểu biết đó, th́ vị
ấy phát hiện ra rằng những thứ đấy
bản thân chúng cũng không đúng, và thực ra đó là
để hạn chế con người. Một
người thật sự thành công mà biết tự ḿnh suy
nghĩ th́ họ dám vượt qua những thứ
đó.
Học viên:
Chúng con dự định xếp đặt các bài kinh
văn theo thứ tự thời gian. Thưa có
được không?
Thầy: Được. Cái chữ “kinh văn” không có hàm nghĩa đặc biệt ǵ. Ư nghĩa nguyên sơ của danh từ kinh văn là để chỉ các bài viết mà cần được học và đọc thường xuyên. Các bài viết thường được tham khảo th́ được gọi là “kinh văn”.
Học viên:
Một con beo th́nh ĺnh hiện ra trong khi con ngồi
thiền. Thưa con beo đó là ǵ?
Thầy: Bởi v́ chư vị muốn luyện công, nên nó t́m cách can nhiễu chư vị. Đừng sợ nó – không có ǵ hại chư vị được (Vỗ tay). Từ khi tôi bắt đầu làm sự việc này, tôi vốn có trách nhiệm với người tu luyện. Bảo đảm là thế. Có rất nhiều người đang học và không ai bị vấn đề ǵ. Nhưng có một điều là: chư vị phải tự xem ḿnh là người tu luyện. Không được nếu chư vị sợ, v́ sợ chính là một tâm chấp trước của con người cần phải buông bỏ.
Học viên:
Thưa Thầy Lư, chúng con đọc sách “Pháp Luân Công Trung
Quốc”: rằng tập bài thứ nhất 3 lần,
từ đó chúng con đă tập mỗi bài 3 lần.
Nhưng tại sao các động tác tay đưa lên
xuống [bài Quán Thông Lưỡng Cực Pháp] và bài Pháp Luân
Châu Thiên Pháp th́ không tập 3 lần [mà là 9 lần]?
Thầy: Tôi nói rằng công pháp này rất linh hoạt. Nếu chư vị có th́ giờ chư vị có thể tập thêm, và nếu chư vị không có th́ tập ít lại. Nếu hôm nay chư vị bận rộn và chỉ có th́ giờ tập một bài th́ cũng được. Khi chư vị không có th́ giờ hay nếu chư vị có đủ th́ giờ để tập chỉ một bài, th́ cứ tập một bài. Và khi chư vị có nhiều th́ giờ hơn chư vị có thể tập thêm. Nhưng mỗi lần tập xong 9 lần liên tiếp th́ chư vị nên ngừng lại, và đó có nghĩa là chư vị không nên tập bài đó tiếp thêm nữa. Theo cách này là tốt hơn. Môn tu luyện mà tôi dạy th́ khác với các môn tu luyện khác. Với các môn tu luyện khác, khi chư vị luyện các bài công pháp th́ quá tŕnh luyện công diễn ra, và khi chư vị không tập th́ nó ngừng lại và không c̣n hoạt động nữa. Trong công pháp chúng ta người tu được luyện suốt 24 giờ trong ngày, và nó được gọi là “Pháp luyện người”. Thế chư vị tập các bài công pháp để làm ǵ? Chính là chư vị đang gia tŕ các cơ chế mà tôi đă hạ nhập trong người chư vị. Tại sao tôi bảo là phải “tùy cơ nhi hành”? Trong khi tập các bài công pháp, năng lượng trong tay của chư vị sẽ gia tăng, và người tu luyện đang gia tŕ các cơ chế đó. Gia tŕ như thế th́ các khí cơ sẽ càng mạnh mẽ hơn. Cho nên các cơ chế đó sẽ tự động hướng dẫn các động tác của chư vị.
Học viên: Thưa học Pháp
thế nào là tốt nhất? Con chỉ đọc sách
hay viết xuống [bằng tay] trong khi đọc sách, hay
chỉ copy lại quyển sách?
Thầy: Ở Trung Hoa Lục Địa có nhiều người thuộc ḷng quyển sách, nhiều người đă viết lại. Cũng có một số người không thuộc được, cho nên họ chỉ đọc thường xuyên. Cách nào cũng được. Những người mà đă thuộc sách rồi phát hiện rằng khi nào họ gặp phải vấn đề , lập tức họ nhớ lại Pháp. Có nghĩa là họ sẽ không xử lư sai sự việc. Viết lại cũng giúp chư vị hiểu biết thâm sâu hơn. Mục đích đọc sách thường xuyên cũng là giúp chư vị hiểu biết thâm sâu hơn và giúp chư vị liên tục đề cao.
Học viên: Thưa Thầy, chúng con
cảm thấy gọi Thầy bằng “Thầy” là không
đúng. “Thầy”
dường như là danh từ quá b́nh thường, cho nên
con nghĩ rằng có lẽ Thầy bảo chúng con gọi
Thầy bằng “Thầy” bởi v́ các t́nh huống ở
Trung Hoa Lục Địa.
Cho nên ở đây chúng con sẽ nói “Chào Sư Phụ”. C̣n những người trước đây có học đạo Phật
như chúng con cảm
thấy tiếng Sư Phụ là cao hơn chúng con, cho nên
không nên gọi bằng “Thầy”.
Thầy: Cám ơn chư vị. Thật ra, chư vị gọi tôi là ǵ cũng được, là Thầy, là Sư Phụ, hay gọi tên của tôi. Tất cả đều được hết. Tại sao tôi bảo chư vị gọi tôi thế nào cũng được? Bởi v́ xă hội ngày nay đă bị hỗn loạn v́ những kẻ bất chính. Một số tự xưng là Phật, một số tự xưng là Phật sống, một số tự xưng là Đại Sư, và một số tự xưng là giáo chủ. Tuy nhiên, chẳng phải tất cả những người đó là đang truy cầu danh và lợi hay sao? Tôi nói rằng chư vị có thể gọi tôi tùy ư theo sở thích của chư vị. Gọi tôi bằng “Thầy” không có ǵ sai. Tôi không quan tâm đến những danh hiệu này, tôi cũng không truy cầu những điều đó. Nhưng tất nhiên, nếu chư vị là học viên của tôi, muốn tỏ sự kính trọng tôi và cảm thấy rằng Thầy của chư vị thật sự đang cứu độ chư vị và giúp chư vị, và v́ lư do đó mà chư vị muốn gọi tôi theo cách nào đó, th́ đó là tùy chư vị. Gọi tôi bằng “Thầy”, tôi cảm thấy là được rồi.
Học viên: C̣n một điều nữa là, vừa qua Thầy giảng “Đừng làm v́ tiền”. Điều này khiến cho con cảm thấy đây là một vị Phật thật. Tất nhiên, Thầy không nói trong sách rằng Thầy là một vị Phật, nhưng con cảm thấy khi chúng con c̣n tu luyện Phật Giáo chúng con chưa bao giờ gặp một vị Minh Sư như thế này, người mà có thể thực sự chỉ đạo. Cho nên con nói với người khác “Quư vị t́m đâu ra một người không thu tiền và c̣n chỉ đạo chư vị tu luyện và tiêu trừ nghiệp cho quư vị? Quư vị đă bao giờ gặp được một người như thế chưa?” Tại sao bây giờ con lại nói ra điều này? Đó là v́ con cảm thấy Thầy của chúng con là một Đạo Sư, người thật sự đến đây để chỉ đạo chúng con tu luyện, cho nên con không quan tâm về những ǵ con đă học trong quá khứ nữa. Con nghĩ rằng trong những người có mặt tại đây cũng có người đă từng là tín đồ của Phật Giáo, có nhiều cư sĩ Phật Giáo, cũng có những người học các môn khác. Nhưng con nghĩ rằng, kể từ hôm nay chúng con phải coi vị Minh Sư của chúng con như là Thầy thật sự của chúng con, người mà chỉ đạo chúng con tu luyện và chúng con không nên học những thứ khác. Tất nhiên, con không dám nói với người khác, nhưng ít nhất con cũng nghĩ như thế, bởi v́ Thầy đă đến đây hôm nay, những lời này diễn tả những ǵ con muốn diễn tả từ bao nhiêu năm qua và hôm nay cuối cùng con đă nói ra được.
Con muốn tu
luyện lên các tầng thứ cao trong suốt cuộc đời này của con, nhưng chưa
t́m ra một pháp môn thích hợp.
Con đă học Mật Tông Tây Tạng và một số môn khí công khác. Thậm chí con c̣n chính thức
là đệ tử của một vị đại sư. Nhưng sau đó con
cảm thấy con vẫn là con và không cảm thấy ǵ
cả. Tuy nhiên sau
khi nghe Thầy giảng Pháp, con có thể nói rằng Pháp
của Thầy truyền là Phật Pháp. Khi con đi xem bài giảng trong băng thu
h́nh trong ngày đầu tiên, Thầy giảng “miễn là
chư vị chân chính tu luyện….” con nói với máy
truyền h́nh “Con
muốn tu luyện một cách chân chính” nhưng con hy
vọng là Thầy sẽ đến Mỹ bởi v́
tất cả chúng con có mặt tại đây hôm nay đă hy
vọng rằng Thầy sẽ đến. Cho nên con mong rằng
Thầy sẽ giúp cho chúng con giác ngộ thêm nữa và
giảng thêm cho chúng con những ǵ chúng con cần phải
chú ư tại đây ở
Có nhiều
cư sĩ Phật Giáo và họ bị khó khăn không
bỏ được những ǵ họ đă học
từ các môn khác. Cho nên chúng con có trách nhiệm phải
giúp họ. Nhưng có một câu hỏi mà con muốn
hỏi Thầy trực tiếp, đó là: có một
người đă từng là cư sĩ Phật Giáo,
họ đọc kinh và thờ Phật rất nhiều
năm rồi. Họ nói rằng mỗi khi họ
đọc kinh (Kinh Phật cổ) họ ngửi thấy
một mùi hương tỏa ra, nhưng khi đọc sách
Pháp Luân Công th́ ngửi thấy một mùi lạ.
Thầy đang ở đây hôm nay, bởi v́ con không ngửi
thấy mùi ǵ hay cũng không thấy được
điều ǵ, nên mong Thầy giảng một chút về
điều này.
Thầy: Được rồi. Kỳ thật trong thời Mạt Pháp, chư Phật chân chính không c̣n quản sự việc trong thế giới này. Nhưng rất nhiều thú vật mà đă đắc linh khí ḅ vào các tượng Phật và khiến cho con người thờ phụng chúng. Chúng giúp người ta làm một chút ít điều ǵ đó hay giúp họ một chút. Hễ người này thật sự muốn tu luyện, những thứ đó sẽ can nhiễu. Ví dụ, một số người nói rằng, tập công nào đó th́ có mùi hương, nhưng thực tế th́ cái mùi đó phát ra từ những con chồn cáo. Mùi th́ khác nhau trong hai không gian: nó là mùi hương thơm ở bên này, nhưng lại là mùi hôi ở bên kia. Chân lư đảo ngược trong nhân thế, tất cả mọi thứ khác cũng thế. Mùi hương đối với con người thật sự là hơi độc đối với Phật. Nó muốn ngăn chận không cho chư vị học Đại Pháp, cho nên nó cố t́nh can nhiễu bằng cách phát ra mùi hôi đó.
Đây là điều tôi nghĩ. Các
học viên chúng ta ở San Franscisco, không nên chỉ chú tâm vào
một ḿnh
Học Viên:
Thưa Thầy, con có hai câu hỏi. Câu thứ nhất
là: v́ cơ duyên mà Thầy đă đến đây và gặp
chúng con. Thầy nói rằng Thầy có cơ duyên
với chúng con. Vậy, Thầy nghĩ thế nào
về tầng thứ của chúng con, tức là, nhóm học
viên chúng con? Liệu nhóm học viên này có thể đạt
công thành và Viên Măn trong môn này
không?
Thầy:
Để tôi giảng cho chư vị, mọi người
ngồi đây, bao gồm cả các trẻ em, tức là,
miễn chư vị có thể siêng năng tu luyện, con đường
mà tôi an bài cho chư vị sẽ tiến đến Viên
Măn. (Vỗ tay) Nhưng đừng hoan hỉ quá
sớm. Đối với tu luyện, Sư Phụ
dẫn chư vị vào cửa [Sư Phụ lĩnh
tiến môn], c̣n tu luyện th́ hoàn toàn tùy thuộc vào cá nhân
chư vị. Tôi đă an bài tất cả cho chư
vị rồi, tôi có thể bảo hộ chư vị, gia
tŕ cho chư vị, và diễn hóa công cho chư vị
tăng lên các tầng thứ mới. Nhưng về
việc tu luyện cái tâm của chư vị, đó là c̣n
tùy vào chính bản thân chư vị. Khi chư vị
bị khó khăn ǵ và trải qua khảo nghiệm ǵ,
chư vị có chịu đựng được hay không
và có vượt qua được hay không, hoàn toàn là tùy vào
cá nhân chư vị. Tất nhiên, khi chư vị
thật sự không vượt qua nổi, tôi sẽ
điểm hóa cho chư vị. Lúc ấy, tôi chỉ lo
rằng tư tưởng của chư vị quá cực
đoan mà không tỉnh thức được cho dù tôi
cố gắng điểm hóa thế nào, v́ thế mà
rắc rối xẩy ra. Tôi có thể nói với chư
vị rằng, khi chư vị không vượt qua khảo
nghiệm, và chư vị nghe điều ǵ trong tai chư
vị, đó chính là Pháp Thân của tôi đang dùng những
lời không dễ nghe để rầy la chư vị và
bảo chư vị điều ǵ. Khó mà vượt
qua khảo nghiệm, nhưng hễ chư vị
vượt qua được rồi và nh́n lại, chư
vị sẽ phát hiện khảo nghiệm đó không là ǵ
cả, và chư vị c̣n thấy làm lạ là tại sao lúc
ấy chư vị quá chấp chước vào thứ
đó. Khi chư vị thật sự vượt qua
được rồi, bảo đảm tâm tính của
chư vị sẽ đề cao và nghiệp của chư
vị sẽ được tiêu trừ. Nếu
rắc rối mà chư vị gặp là do người khác
gây ra, th́ họ sẽ cấp đức của họ cho
chư vị. V́ thế mà tôi bảo với chư vị
rằng: chịu khổ không phải là điều
không tốt. Chỉ có con người mới nghĩ
rằng chịu khổ là điều không tốt, rằng
một đời đau khổ là một đời không
hạnh phúc. Tuy thế đối với người
tu luyện, đau khổ không những tiêu trừ
nghiệp mà c̣n đề cao tầng thứ của một
người và đưa đến Viên Măn. Nếu
chư vị nói rằng tôi chỉ muốn hạnh phúc
nơi người thường, rằng chư vị không
muốn một chút đau khổ nào, chỉ muốn
luyện trong thoải mái, vậy th́ nghiệp của
chư vị không tiêu trừ được, tâm tính của
chư vị cũng không đề cao, và chư vị
sẽ không đạt Viên Măn. Ư nghĩa là thế.
Dù tôi có giảng ǵ đi nữa, Pháp lư có được giảng rơ thế nào đi nữa, th́ khi phải chịu khổ, có thể chư vị cũng không thể nhẫn chịu nổi. Tôi đă nói sự thật với mọi người trước đây. Tại sao chư Phật có rất nhiều phúc lành? Các vị ấy được hạnh phúc và trường thọ. Đó chính là v́ các vị ấy càng chịu khổ bao nhiêu, th́ sẽ được hưởng phúc lành bấy nhiêu. Hôm nay nếu tôi bảo tất cả chư vị mà đang ngồi đây hôm nay là phải trải qua nhiều đau khổ như thế, không ai trong chư vị sẽ đạt Viên Măn. Tại một tầng thứ căn bản, miễn là chư vị thật sự quyết tâm tu luyện, Sư Phụ sẽ giúp chư vị tiêu trừ thêm nghiệp của chư vị. Đúng như những ǵ tôi đă từng giảng: có thể chư vị đă chịu khổ bao nhiêu đời rồi, để mà đắc được Pháp này. Nhiều người thật sự đă đến để được đắc Pháp, cho nên họ đă bắt đầu chịu khổ từ lâu lắm rồi. Hôm nay, chư vị c̣n thiếu ǵ nữa đây? Chỉ có một điều là: chỗ buông bỏ chấp chước của con người, chư vị c̣n thiếu sót. Cái khổ mà tôi nói chủ yếu chính là cái khổ kèm theo với việc chư vị buông bỏ chấp trước của bản thân chư vị.
Bản tiếng Anh tại địa chỉ:
http://www.falundafa.org/book/eng/doc/sf1996.doc
Dịch ngày 29 tháng 01 năm 2008
Hiệu
chỉnh ngày 30 tháng 3 năm 2009
Để chỉnh nghĩa đúng hơn,
bản dịch có thể được hiệu chỉnh
lại trong tương lai.
www.thuviendaiphap.com