Giảng Pháp Tại Thành Phố Nửu
Ước
Lư Hồng Chí
Đại
dương xa xôi cách trở, gặp chư vị thật
không dễ dàng. Tuy nhiên dù
chư vị không gặp được tôi, miễn là chư
vị tu luyện, thật sự là tôi ở ngay bên cạnh
chư vị. Và miễn là
chư vị tu luyện, tôi có thể chịu trách nhiệm
với chư vị trong suốt tiến tŕnh tu luyện
cho đến cuối cùng; và hơn nữa là ǵ, tôi chăm
sóc chư vị từng giây phút. (Vỗ
tay) Ai mà không làm như thế
chính là đang truyền tà pháp, làm điều xấu, và
tuỳ tiện tiết lộ thiên cơ. Tất nhiên, bởi v́ chư
vị đă biết điều này từ kinh nghiệm
thực tế, tôi không cần phải giải thích quá
nhiều. Tôi chỉ nói về
những ǵ tôi làm được và không nói về những
ǵ mà tôi không làm được.
Đó là tại sao Đại Pháp đang phát triển
một cách lành mạnh.
Gặp
lần trước, không có nhiều người như
thế này. Tất nhiên là c̣n
nhiều người hơn nữa, họ không đến
đây được là v́ họ không nghỉ việc
được. Tức là
từ lần gặp chư vị trước đây, chúng
ta đă có rất nhiều người nhập Đạo
và đắc Pháp. Thật
sự là Pháp này có thể phát triển nhanh như vậy và
phổ biến trên diện rộng như thế, tôi tin
rằng đó là v́ sức mạnh của Đại
Pháp. Trong khi đó, con
đường mà chúng tôi đă chọn trong tiến tŕnh
phổ truyền Đại Pháp đă được
chứng thực. Bởi v́
chúng tôi chân chính chịu trách nhiệm với các học viên
và với xă hội, cho nên chúng tôi mới thu được
kết quả như vậy.
V́ có ít cơ hội để gặp chư vị -
cũng không dễ dàng ǵ cho tôi tới được
Mỹ, cần có hộ chiếu (visa), v́ thế mà cũng
khá bất tiện – giờ đây chúng ta có thể gặp
nhau rồi, tôi muốn cố gắng hết khả
năng để giúp giải quyết một số vấn
đề của chư vị.
Chư vị có thể đưa ra bất cứ câu
hỏi nào chư vị có và tôi sẽ giải đáp chúng
cho chư vị. Chúng ta hăy
tận dụng tối đa cơ hội này để giúp
chư vị giải quyết những khúc mắc và
những vấn đề khó khăn của chư vị,
và để Đại Pháp phát triển mạnh mẽ
hơn nữa trên nước Mỹ. Khởi đầu tôi muốn nói với các
học viên về một số vấn đề cụ
thể, nhưng một số trong trong chư vị th́
được “ưu đăi”
ngày hôm qua. Bởi v́ họ
đến sớm, nên tôi đă trả lời một vài câu
hỏi của họ vào hôm qua rồi. Nhưng mọi người đừng lo,
đừng lấy làm tiếc hôm nay: ai trong chư vị mà
chưa nghe các giải đáp đó hôm qua vẫn có thể
đặt câu hỏi và tôi sẽ trả lời cho chư
vị.
Tôi
sẽ dùng thời gian này để giảng cho chư
vị về những vấn đề liên quan đến
tu luyện, nói một cách khác, là về Pháp. Tôi biết rằng, trong giai
đoạn này, chư vị đă tiến bộ khá nhanh,
thực tế là rất nhanh.
Lần trước, khi tôi từ Mỹ trở về
Trung Quốc, tôi nói với các học viên tại Trung
Quốc rằng, nước Mỹ là nơi đặc
biệt và có rất nhiều người xuất sắc –
đặc biệt là những người Trung Quốc
xuất sắc đang ở bên đó. Những người này có căn cơ khá
tốt, hiểu Pháp rất sâu, lĩnh hội rất nhanh,
và đột phá tầng thứ của họ nhanh
hơn. Đây là những
ưu điểm mà chư vị có. Nhưng đừng vội tự măn, bởi v́
chư vị cũng có chấp trước và chướng
ngại qua các h́nh thức khác nhau cần phải
vượt qua, và thậm chí chỉ như thế chư
vị mới có thể tinh tấn nhanh hơn.
Bây
giờ tôi sẽ giảng về nghiệp bệnh, một
vấn đề mà đă và đang gây rắc rối cho
rất nhiều học viên chúng ta, những người mà
không hiểu Pháp ở mức độ thâm sâu. Tuy rằng tôi đă giảng trong
sách của tôi là làm sao người tu luyện phải
giải quyết về bệnh.
Tôi sẽ giảng về nó một lần nữa
từ một góc độ khác.
Thực tế là, chúng ta người tu luyện không
nên nhầm lẫn bản thân ḿnh với người
thường. Chư vị
cũng biết, thời xưa khi một người
trở thành thầy tu, người ta không xem họ là
người thường nữa – vị này đă trở
thành bán-thần rồi.
Vậy th́ sự khác biệt giữa con người
và thần là ǵ? Con
người có t́nh – t́nh cảm rất mạnh. Con người sống trong
thế giới này chính là v́ t́nh.
Không có t́nh, chư vị không sống trong thế
giới này được.
Những ǵ chư vị muốn, thói quen ǵ chư
vị có, những ǵ làm cho chư vị hạnh phúc,
những ǵ làm chư vị tức giận, t́nh cảm gia
đ́nh, t́nh cảm vợ chồng, t́nh thương giành cho
con cái, chư vị muốn làm ǵ, chư vị không
muốn làm ǵ, thích cái này, không thích cái kia, và vân vân – mọi
thứ đều đến từ cái t́nh của con
người. Không có cái t́nh này
th́ sẽ không c̣n là xă hội con người nữa. Ở giữa trạng thái
của cái t́nh này, những ǵ mà người ta làm để
thích hợp với t́nh trạng của xă hội
người thường không thể xem là sai. Thế th́ tại sao nhiều
người trong các thế hệ trước cho rằng
hiểu biết của con người là hoàn toàn sai? Đó là v́ những người
mà nói những lời đó không c̣n là người
thường nữa và họ xét con người từ
một cảnh giới khác.
Tuy nhiên, v́ mọi người đang ở giữa
người thường, chư vị không thể nói
rằng họ sai. Như tôi
đă giảng hôm qua, mặc dù xă hội này của con
người thật là ghê sợ, nhưng nó cũng vẫn
là một trong các tầng thứ - tầng thấp nhất
– nó xuyên suốt qua toàn vũ trụ từ trên đỉnh
đến xuống đáy, và là một biểu hiện
của đặc tính của vũ trụ - là Đại Pháp - tại
tầng thứ thấp nhất.
Không có tầng thứ con người này th́ không
được. Mọi
người cũng không thể tu thành Phật. Xă hội con người không
thể không tồn tại – nó chỉ tồn tại theo
cách này. Chỉ có điều,
nó là một môi trường rất đặc biệt, và
nó có thể giúp cho người tu đạt đến các
cảnh giới cao. V́
thế, khi chư vị xét con người từ góc
độ của cảnh giới cao hơn th́ là khác
rồi. Đó là tại sao tôi
vừa giảng rằng, là người tu luyện, chư
vị không được dùng khái niệm của người
thường để nhận định bất cứ
những ǵ chư vị nh́n thấy, tiếp xúc, hay kinh
nghiệm. Do đó chư
vị phải tự ḿnh giữ vững chính ḿnh và thể
theo tiêu chuẩn cao hơn.
Khi
một người thường bị bệnh và không
muốn đi bệnh viện hay không muốn uống
thuốc, điều đó không phù hợp với các nguyên
lư của người thường, không phù hợp và các
nguyên lư của thế giới này, và mọi người
không chấp nhận điều đó: “Tất nhiên là một người th́ phải
uống thuốc khi bị bệnh.” “Tất nhiên một người phải đi
bệnh viện để điều trị khi bị
bệnh.” Đó là cách mà con người giải quyết
vấn đề này và không có ǵ sai. Nhưng là một người tu luyện, chư
vị không thể nhầm lẫn chính ḿnh với
người thường. Nói
nghiêm túc một chút, chư vị không c̣n là con người
nữa. Như tôi vừa
giảng, con người có đủ loại cảm xúc và
ham muốn, sống chỉ v́ cái t́nh này. Trong suốt quá tŕnh tu luyện, chư vị
dần dần xem nhẹ và dần dần vứt bỏ
những điều này cho đến khi chư vị hoàn
toàn loại bỏ chúng đi.
Con người sống v́ những thứ này, nhưng
chư vị th́ không. Hỏi
chứ chư vị có thể giống như người
thường không? Chư
vị không giống như vậy.
V́ là t́nh huống đó, tại sao chư vị không áp
dụng các nguyên lư của cao tầng, các nguyên lư mà không
giống như của người thường,
để mà nhận định vấn đề và
nhận định bản thân ḿnh và những ǵ chư
vị gặp phải? Đó
là cách phải như thế.
Đó là tại sao tôi đă giảng với chư
vị rằng khi chúng ta những người tu luyện
cảm thấy không ổn ở đâu đó trong thân,
đó không phải là bệnh.
Tuy rằng cái mà người thường cho là,
trạng thái mắc bệnh và trạng thái mà phản ảnh
trên thân thể người tu khi nghiệp lực đang
được tiêu trừ, th́
giống nhau. Rất khó
cho người thường phân biệt được
sự khác biệt. Đó là
tại sao tu luyện nhấn mạnh vào “ngộ”. Nếu mà không giống nhau, th́ ai
cũng tu luyện được và câu hỏi về
ngộ cũng không tồn tại.
Nếu toàn những điều rất tốt xảy
ra trên thân thể của một người, và thậm chí
cảm thấy một chút ít khó chịu giống như là
thần tiên cảm thấy, nói xem, ai chẳng muốn tu
luyện? Ai cũng muốn,
thế th́ nó không được tính – nó không
được tính như là tu luyện. Ngoài ra, con người không được phép tu
luyện theo cách đó, v́ nó không có liên quan đến
ngộ. V́ thế, trong tu
luyện, chư vị nhất định là bị
khảo nghiệm giữa cái không minh bạch của
thật và giả, để xem chư vị xử lư ra sao
với vấn đề trước mắt – để
xem chư vị có xem bản thân ḿnh là người tu
luyện hay là người trung b́nh, là người
thường. Chẳng
phải điều này là để xét chư vị có tu được
hay không sao? Tất nhiên là
vậy, chư vị thể hiện là người
thường và không khác ǵ với người thường
ở bề mặt, nhưng trên thực tế chư
vị là một người tu.
Hôm
qua, tôi có giảng về tu luyện Phật Pháp. Tu luyện là việc quan
trọng nhất trong vũ trụ. Một người muốn thăng lên một
cảnh giới cao như thế, và trở thành một La
Hán, Bồ Tát, Phật, Đạo, Thần; nếu một
người với cái thân thể đầy nghiệp mà
thành Thần, chư vị nói xem, chẳng phải là
một vấn đề nghiêm trọng hay sao? Một cách nghiêm túc, không phải
chư vị nên xét các vấn đề này với tiêu
chuẩn cao và phải giữ vững chính niệm hay
sao? Nếu chư vị
vẫn xét các vấn đề này từ góc độ
của người thường, chẳng phải chư
vị cũng là người thường hay sao? Đây là vấn đề
rất nghiêm túc – là giúp chư vị thành Phật – vậy
mà chư vị vẫn xem bản thân ḿnh là con người
và vẫn c̣n nhận định những điều này
với các nguyên lư của con người. Th́ không có tác dụng; chư
vị không nghiêm túc về điều này, cho nên chư
vị không tu được.
Phật, Đạo, Thần không như các thầy tu
và con người ngày nay nghĩ.
Cũng như chư vị biết, chư Phật và
Thần không có cái t́nh của người thường,
cũng không có cách nghĩ của người thường
hay khái niệm theo cách hiểu của người
thường về điều ǵ.
Cách nghĩ của họ hoàn toàn là của cảnh
giới khác, và họ hoàn toàn không có quan niệm và khái
niệm của con người về điều ǵ. Hiện tại con người
đă nhân cách hoá chư Phật và Bồ tát, lại c̣n
nghĩ về các vị ấy như thể là họ có t́nh
người và nhân tính. Khi
một số người vào chùa lễ Phật và
đốt hương, họ không đến đó
để tu hay kính ngưỡng, mà là để cầu tài
vật – cầu Phật với tâm chấp trước
của họ. Hăy suy nghĩ
về điều này, cái ư đồ đó là quá tệ!
Trong
quá khứ, người ta lễ Phật chỉ v́ ḷng kính
ngưỡng. Tức là, thay
v́ cầu những ǵ cho bản thân họ, họ
đến để tỏ ḷng kính ngưỡng với
chư Phật, lễ Phật, hay tu luyện bản thân
ḿnh thành Phật, là v́ chư Phật vĩ đại và
chư Phật bảo hộ loài người trên diện
rộng. Nhưng ngày nay con
người không c̣n như vậy nữa. Trong quá khứ, con người
luôn có chính niệm khi họ nghĩ về một vị
Phật hay Bồ Tát, và họ chỉ nói đến danh
từ “Phật” hay “Bồ Tát” với ḷng tôn kính
vĩ đại, cảm nhận rằng các ngài cao quư và
vĩ đại. Tuy nhiên con
người ngày nay không c̣n khái niệm nào như thế
nữa. Họ tuỳ
tiện mở miệng và nói về chư Phật, họ
tuỳ tiện nói về chư Phật và Bồ Tát như
thể là những lời này phát ra từ chót lưỡi
của họ. Họ thậm
chí c̣n tuỳ tiện khắc và vẽ h́nh Phật bất
cứ thế nào họ muốn, và đặt chúng bất
cứ nơi nào họ muốn.
Các h́nh ảnh của Phật A Di Đà và Thánh Mary
thậm chí c̣n bị đặt vào nghĩa địa. Thật là như thể con
người đang điều khiển Thần trông nom cho
người chết, như thể là con người
đang ra lệnh cho Thần làm cái này và làm cái khác. Ư định không phải là
thế hay sao? Mọi
người hăy suy nghĩ về điều này: một
vị Thần là linh thiêng và vĩ đại – chỉ
một cái vẫy tay là vị ấy có thể mang hạnh
phúc đến cho toàn nhân loại, và chỉ một cái
vẫy tay vị ấy có thể mang hủy diệt
đến cho nhân loại.
Vậy mà chư vị đối xử với
họ như thế? Nếu
không phải v́ ḷng nhân từ của họ đối
với nhân loại, th́ tức khắc nhân loại sẽ
bị huỷ diệt không c̣n một dấu vết khi nhân
loại ngu xuẩn làm điều xấu. Chỉ v́ bây giờ nhân loại
không hiểu điều này, nên họ mới dám làm như
thế. Thực tế th́
họ đang nguyền rủa chư Phật. Giống như điều tôi giảng
lần trước. Tôi đă
nói với chư vị lần trước rằng,
thậm chí thực đơn quán ăn mà cũng có món
gọi là: “Phật nhảy qua
tường” vân vân.
Một vị Phật không có chấp trước ǵ về
màu sắc và mùi vị cả.
Nói rằng khi một vị Phật ngửi thấy
mùi vị thơm ngon, vị này nhảy qua từ bên kia
tường để ăn món này – chẳng phải
đây là phỉ báng xấu xa nhất với Phật hay
sao? C̣n có những món
được gọi là “Thức
ăn chay của La Hán” vân vân.
Một vị La Hán cũng không chấp trước
về màu sắc hay mùi vị.
Thế mà có người gọi món ăn là “Thức ăn chay của La Hán”
là thứ mà một vị La Hán ăn – chẳng phải
chư vị lăng mạ vị La Hán hay sao? Các vị ấy thấy rằng
thức ăn của con người là nhơ nhớp. V́ thế tư duy của các
vị ấy là khác với tư duy của con
người. Bị
điều khiển bởi tiền và dục vọng,
hiện tại con người đă gây ra cái t́nh huống
này đối với chư Thần và Phật. Chư Phật, Đạo,
Thần không có nhân tính hay cách nghĩ của người
thường. Tuy nhiên, như
tôi đă giảng, người ta đi lễ Phật không
phải với tâm kính ngưỡng vĩ đại hay mong
ước tu luyện, mà là cầu Phật cho tài vật: “Phù hộ cho con có con trai, phát tài,
tai qua nạn khỏi, giúp con thoát khỏi mọi khổ
đau ...” Mục đích
của họ đều như vậy. Tuy thế, chư Phật không có liên hệ vào
những thứ như vậy – mà các ngài cấp siêu
độ cho con người.
Giả như nếu chư vị có thể sống
như thần tiên, tận hưởng mọi thứ
tiện nghi giữa người thường, có thật
nhiều tiền, và hoàn toàn thoát khỏi tai hoạ và
rủi ro, chư vị thật sự sẽ không muốn
tu luyện thành Phật hay thành Thần. Với quá nhiều tiện nghi, th́ chư vị
đă là một vị Thần rồi. Mọi thứ không như thế
được.
Đời
này qua đời khác nhân loại đang tạo
nghiệp. Một
người mang nghiệp sẽ bị khó nạn, thống
khổ, phiền năo, thiếu thốn tiền bạc, và
bị nhiều bệnh tật trong suốt đời này
và đời sau. Chỉ sau
khi trả hết nghiệp, th́ chư vị mới có thể
có hạnh phúc và trở nên khá giả. Nếu làm sai mà không trả th́ không
được phép - đó là một nguyên lư tồn tại
trong vũ trụ. Chư
vị có thể thấy rằng, những ǵ đă xảy
ra trong đời trước và những ǵ xảy ra trong
đời sau th́ có liên hệ với hai người khác
nhau. Thực tế là, khi
người khác nh́n vào chư vị, họ chỉ nh́n vào
tiến tŕnh của toàn bộ sự tồn tại của
chư vị. Cũng giống
như chư vị thức dậy sau giấc ngủ và nói
rằng những ǵ chư vị đă làm hôm qua không có liên
quan ǵ với những ǵ chư vị làm hôm nay, rằng
những ǵ chư vị đă làm hôm qua không phải là do
chính chư vị làm. Nhưng
những điều đó đều là do chư vị làm,
và đó là cách mà họ xét một đời người. Do vậy, vừa qua tôi giảng
ngoài lề một chút, để nói rơ cái ư này: chư
vị không thể xét những điều này với quan
niệm của người thường. Một người thường
cần phải uống thuốc khi họ bị
bệnh. Nhưng với
chư vị là người tu luyện, tôi không cấm
chư vị uống thuốc.
Tuy nhiên, chẳng phải chúng tôi giảng về tu
luyện hay sao? Và chẳng
phải chúng tôi đang giảng về ngộ hay sao? Chư vị không cần ngộ
ra rất cả. Chư
vị có thể ngộ đến đâu th́ cũng được. Nếu một người nói
rằng anh ta không làm được “Không, tôi không buông bỏ được cái chấp
trước này. Tôi vẫn
phải uống thuốc.
Mặc dù tôi tu luyện, tôi vẫn phải uống
thuốc,” tôi phải xét điều này ra sao? Tôi chỉ cảm thấy
tiếc v́ ngộ tính của người này quá thấp và
cái khảo nghiệm này họ chưa vượt qua
được. Đáng
lẽ là họ có thể đề cao và đạt
được một bước to tiến đến
Viên Măn, nhưng họ lại không đạt
được đến bước đó. Tôi chỉ cảm thấy
tiếc về điều này và tôi cũng không nói rằng
người này không tốt nữa. Cũng không phải tôi nói rằng người
đó hoàn toàn không tu luyện được nữa hễ
mà họ uống thuốc.
Chính là v́ ngộ tính của mỗi người khác
nhau, và căn cơ của mỗi người cũng khác
nhau. Chỉ khi nào chư
vị đề cao lên, th́ chư vị mới vượt
qua khảo nghiệm này được và có lĩnh hội
mới. Nếu chư vị
không đề cao và không hoàn toàn ngộ ra vấn đề
này, có nghĩa là về mặt này này chư vị vẫn
c̣n là người thường.
Tuy nhiên, cũng không thể nói rằng chư vị
không tốt chút nào cả.
Để
tôi giảng cho chư vị thêm một chút về mối
quan hệ giữa dùng thuốc và tiêu trừ nghiệp. Vừa qua tôi giảng đây
rằng, nghiệp được tích tụ từ
đời này sang đời khác mà sinh ra bệnh
tật. Thế nghiệp là
ǵ? Hạt tử của
nghiệp càng nhỏ, các hạt mà tồn tại trong các
không gian khác – hạt càng nhỏ hơn – th́ sức mạnh
càng to hơn. Khi nó thấm vào
không gian của chúng ta, nó là một vi sinh vật, là mầm
bệnh siêu vi. Chư vị
nói xem, cái bệnh đó có là ngẫu nhiên không? Không thể hiểu bằng y
học hiện đại hay khoa học hiện
đại, mà chỉ có thể hiểu được
loại hiện tượng mà đang biểu hiện ra
trong không gian bề mặt này mà do một lớp hạt
tử to nhất cấu thành, cái lớp mà do các phân tử
cấu thành. V́ thế mà xem
đó là bệnh, là khối u, nhiễm trùng đâu đó, hay
là những thứ khác; tuy nhiên khoa học ngày nay không nh́n
thấy được nguyên nhân căn bản làm sao con
người mắc bệnh, và nó luôn giải thích với
những lư giải hạn hẹp mà người
thường hiểu biết.
Tất nhiên, khi người ta mắc bệnh, thông
thường là v́ nó phù hợp với các nguyên lư tại
tầng thứ của thế giới này, và thông
thường nó có một yếu tố ngoại lai trong
thế giới này khiến cho căn bệnh biểu
hiện ra. Thế nó thể
hiện là nó thật sự phù hợp với các nguyên lư
của thế giới này.
Nhưng trên thực tế, đó chỉ là một nhân
tố ngoại lai giúp cho nó phù hợp với các nguyên lư
của thế giới này hay phù hợp với trạng thái
của thế giới này. Tuy
nhiên cái gốc rễ của nó và cái bệnh th́ không
xuất phát từ không gian này.
V́ thế bây giờ khi chư vị dùng thuốc, th́
chư vị đang diệt cái bệnh này hay diệt cái
mầm bệnh ở bề mặt. Thuốc thật sự có thể diệt mầm
bệnh ở bề mặt.
C̣n công của người tu luyện th́ tự
động tiêu diệt mầm bệnh và nghiệp. Tuy nhiên vừa khi thuốc
diệt cái mầm bệnh ở bề mặt mà từ các
không gian khác thấm vào, th́ cái mầm bệnh đó, chính là
nghiệp ở bên kia sẽ biết, bởi v́ mọi
thứ đều có sự sống, và nó sẽ ngừng
lại không thấm qua nữa.
Sau đó, chư vị cảm thấy chư vị
hồi phục bởi v́ chư vị đă dùng
thuốc. Nhưng để
tôi nói cho chư vị biết, dù sao th́ nó cũng tích tụ
ở bên kia. Đời
đời kiếp kiếp con người đang tích
tụ những thứ này. Khi
nó tích tụ đến một mức độ
đặc định, th́ người này không c̣n cứu
chữa được nữa và khi họ chết họ
sẽ hoàn toàn bị hủy diệt. Họ mất đi sinh mệnh của họ –
vĩnh viễn mất đi sinh mệnh của họ. Nó kinh hoàng như thế. V́ vậy, đây tôi vừa
diễn giải cho chư vị về mối quan hệ
này. Không phải là con
người không được phép dùng thuốc. Khi một người
thường mắc bệnh th́ nhất định là
họ cần y học điều trị.
Vậy,
người tu luyện chúng ta giải quyết nó thế
nào? Chẳng phải chúng tôi
đang thanh lọc thân thể chư vị hay sao? Cũng như các ṿng tuổi
của một thân cây, tại mỗi một lơi đều
có nghiệp, và tại mỗi một lớp, đời này
qua đời khác, trong thân thể chư vị. Khi chư vị tu luyện,
bắt đầu từ trung tâm tôi sẽ liên tục
đẩy nghiệp này ra ngoài; tôi đẩy, đẩy và
đẩy, và cứ đẩy cho đến khi tôi hoàn toàn
đẩy hết nghiệp ra cho chư vị. Cũng không phải là cái chỗ
nghiệp này có thể xuyên qua bề mặt của thân
thể chư vị được. Chư vị sẽ không chịu nổi nếu
tất cả đều được đẩy xuyên qua
bề mặt thân thể của chư vị. Chỉ có một phần của
nó là bài xuất ra bề mặt thôi. Tuy nhiên, chư vị vẫn cảm thấy
đột nhiên chư vị mắc bệnh, chư vị
thấy rất khó chịu và đau đớn, không
chịu nổi, rồi tự xem bản thân ḿnh là
người thường, và đi dùng thuốc. Thế th́ chư vị cứ
dùng thuốc, bởi v́ chúng tôi chưa bao giờ giảng
rằng người thường không được dùng
thuốc. Chúng tôi chỉ
giảng rằng ngộ tính của chư vị không
đủ và chư vị không vượt qua khảo
nghiệm này tốt. Chúng tôi
không quy định rằng chư vị không
được dùng thuốc khi chư vị tu luyện –
chúng tôi không có quy định cứng nhắc đó. Tuy nhiên, chúng tôi đang giảng
cho chư vị các Pháp lư.
Chư vị muốn tiêu trừ nghiệp này, nhưng
chư vị lại dùng thuốc và ấn nó trở lại
– chúng tôi thanh lọc thân thể của chư vị
thế nào đây? Tất
nhiên, chúng tôi có thể đẩy tất cả nghiệp ra
khỏi chư vị trong các không gian khác. Tuy nhiên Pháp của vũ trụ
này có một nguyên lư: trong khía cạnh này chư vị
phải chịu thống khổ khi nghiệp của chư
vị được tiêu trừ.
Chư vị phải chịu thống khổ
giống như chư vị đă từng gây ra cho
người khác trước đây. Nhưng đối với người tu
luyện, chúng tôi không thể để chư vị
chịu đựng tất cả nghiệp theo cách ấy,
v́ nếu chư vị chết th́ chư vị không tu
luyện được. Là một
người tu luyện, sau khi chư vị đạt Viên
Măn, chư vị phải hoàn trả cho các sinh linh mà đă
bị thiệt tḥi bằng phước báo. Nhưng chư vị cũng
phải chịu một phần đau đớn về
tinh thần. Trong khi chịu
đựng phần mà đă nợ người khác, th́
chư vị sẽ trả hết nghiệp, bởi v́
chư vị đă chịu thống khổ. Không có ǵ là cô lập. Trong khi trả nghiệp, chư
vị phải tự xem bản thân ḿnh là người tu
luyện trong khi chịu đựng thống khổ. Khi chư vị không xem đó là
bệnh, th́ chư vị thật sự đă có lĩnh
hội ở cao tầng về vấn đề này, thay v́
có cách nghĩ của người thường. Thế chẳng phải là
cảnh giới và tâm tính của chư vị đă
đề cao về khía cạnh này hay sao? Chẳng phải đó là vấn
đề hay sao? Thật khôi
hài khi nghĩ rằng một người có thể
đề cao qua tu luyện chỉ bằng cách tập các
bài công pháp. Các bài công pháp là
phương tiện bổ sung để chư vị
tiến đến Viên Măn.
Tầng
thứ của một người không bao giờ tăng
nếu tâm tính không đề cao qua tu luyện. Và cũng không phải một
người tu thành Phật chỉ qua cách tụng kinh
như người ta nói.
Cũng có một số người nghĩ rằng,
một người có thể tu thành Phật bằng cách làm
rất nhiều việc tốt.
Tất cả những điều này là nói đùa thôi,
họ đều tu luyện với dụng ư. Nếu chư vị không thật
sự tu luyện, th́ tụng kinh có tác dụng ǵ? Không tu luyện th́ hoàn toàn không
đạt được quả vị của
Phật. Không hề có kinh sách
nào khi Phật Thích Ca truyền Pháp thời ấy, cũng
như không có kinh sách nào khi Đức Jê-su truyền Pháp
của ngài. Người
thời ấy chỉ chân chính tu luyện. Không tu tâm tính th́ chư vị có
đề cao được không?
Không đủ tiêu chuẩn của cảnh giới
đó th́ chư vị đề cao được
không? Trong khi c̣n mang đủ
loại t́nh cảm và dục vọng, c̣n mang đủ
loại chấp chước, và cái ham muốn tiền
bạc c̣n nặng hơn ước muốn thành Phật,
hỏi chứ chư vị có thể lên thiên đàng
được không? Điều
đó tuyệt đối là không được. Tôi nghĩ rằng tất cả
chư vị đều hiểu điều này. Tức là, một người tu
luyện là phi thường, và là một người phi
thường, với t́nh trạng bất ổn của thân
thể th́ người tu phải xử lư ra sao? Người thường có
bệnh, c̣n đối với thân thể của chư
vị, tôi đang đẩy nghiệp ra ngoài cho chư
vị. Khi nó bị
đẩy ra tới bề mặt th́ chư vị sẽ
cảm thấy khó chịu, bởi v́ đầu dây thần
kinh trên bề mặt của thân thể con người là
nhạy cảm nhất. Nó
biểu hiện như chư vị mắc bệnh, và trong
vài trường hợp nó dường như rất
nặng. Điều này có
thể xảy ra. Bởi v́ nó
có thể xảy ra, mọi người hăy nghĩ về
những điều sau đây.
Nếu chư vị tự xem bản thân ḿnh là
một người thường và nếu chư vị xem
nó là bệnh, tất nhiên cũng được thôi, th́
chư vị cứ dùng thuốc.
Cái khảo nghiệm này chư vị chưa
vượt qua được, ít nhất về khía
cạnh này chư vị vẫn là một người
thường. Khi chư
vị vượt qua khảo nghiệm này, th́ về khía
cạnh này chư vị là phi thường. Nhưng nếu chư vị
muốn tu thành Phật, th́ sự hiểu biết của
chư vị phải là phi thường trên mọi
mặt. Nếu chư vị
không vứt bỏ chấp trước đó, chư vị
sẽ không vượt qua khảo nghiệm này được,
và chư vị sẽ không đạt Viên Măn. V́ vậy nếu chư vị
bỏ lỡ cơ hội này, th́ chư vị sẽ không
vượt qua khảo nghiệm này. Tại sao một số người phụ
đạo và cựu học viên mà hiểu rơ điều này
rất lo lắng mỗi khi họ thấy các học viên
dùng thuốc? Tất nhiên,
họ không thể giải quyết nó theo cách như tôi làm. Bởi v́ họ quen thân nhau, nên
họ nói: “Các vị không nên
dùng thuốc”, thế này thế này họ nhắc
nhở cho người đó biết. Tất nhiên, người đó cũng vẫn
không ngộ ra điều này, “Tại
sao không cho tôi dùng thuốc sau khi tôi bắt đầu
tập luyện chứ?” Nếu họ không ngộ ra điều đó, th́
không phải là một t́nh huống dễ dàng giải
quyết. Chúng tôi không có quy
định nghiêm khắc cấm không cho chư vị dùng
thuốc. Tôi chỉ giảng
cho người tu luyện một đạo lư liên quan
đến việc có nên dùng thuốc hay không, thay v́ bảo
người thường không nên dùng thuốc.
Pháp
của chúng tôi được truyền là để tu
luyện trong thế giới này.
Không nhất định người tu nào cũng thành
Phật. Một số
người rất tinh tấn và kiên định, nên họ
thăng tiến đến Viên Măn nhanh hơn. Một số người th́
không tinh tấn được như thế, nên việc
thăng tiến đến Viên Măn của họ rất
chậm. Một số
người dường như đang tu luyện, nhưng
thực chất th́ không tu; họ có vẻ tin tưởng,
nhưng không thật sự tin – v́ thế có lẽ họ
không đạt Viên Măn được. Nhưng tu luyện đến chừng mức
nào, có thể họ cũng không phí công tu luyện. Nếu một người mà tu
không thành, hay không tu kịp trong đời này, hăy xem
điều ǵ xảy ra trong đời sau – có thể
họ sẽ tu trong đời sau.
Hay có thể họ không muốn tu nữa; nhưng dù
sao th́ họ cũng đă vứt bỏ một số chấp
trước trong Đại Pháp này, cũng đă nghe
Phật Pháp, và đă trở thành một người
tốt hơn người thường qua tu luyện. Có lẽ là họ tạo
được phước lành cho đời sau của
họ. Có thể họ
sẽ phát tài hay làm đại quan trong đời sau. Những thứ này chỉ có
thể chuyển thành phước lành, thế th́, dù họ
không tu thành, nhưng cũng không phí công tu luyện. Đó là đạo lư. Tôi nghĩ rằng, v́ chư
vị là người tu luyện, có thể ngồi nghe Pháp
hôm nay, tôi hy vọng tất cả chư vị sẽ
tiếp tục tu luyện cho đến cuối cùng. Không phải ai cũng
được nghe Phật Pháp.
Thực tế, tôi có thể nói với chư vị
rằng nước Mỹ là rất đặc biệt. Tôi đă ngừng giảng Pháp hai
năm qua, nhưng có rất nhiều người Trung Hoa
ở tại Mỹ và trong số những người
Mỹ rất nhiều người có từ tâm. Tôi cũng muốn họ
đắc được Pháp này.
Thật ra, tôi không c̣n giảng theo hệ thống
nữa, và tôi chỉ giảng nhắm vào những t́nh
huống cụ thể.
Bởi v́ sách đă xuất bản rồi, mọi
người đều có thể học bằng cách
đọc sách. Các trung tâm
phụ đạo cũng được thành lập, v́
thế mà tất cả chư vị có thể đến
và cùng tu luyện. Cơ
hội cho một người được nghe Phật
Pháp là ngàn năm có một, và một số người thậm
chí không có được cơ
duyên tiền định này.
Đây là v́ trong lục đạo luân hồi, một
người có thể tái sinh thành các loại động
vật, thực vật khác nhau hay các chất ǵ đó. Mất cả hàng trăm hay hàng
ngàn năm để được một lần tái sinh
lại thành người. Trong
suốt vài trăm hay vài ngàn năm luân hồi đó, chư
vị phải thành người vào đúng giai đoạn,
sau đó chư vị phải tái sinh tại một nơi
mà chư vị có thể gặp được Pháp này, và
chư vị phải đến thế giới tại
đúng thời điểm mà có cơ hội để nghe
Pháp và có thể tham dự khoá giảng. Tất nhiên là phải mất nhiều, rất
nhiều cơ duyên tiền định như thế này th́
mới xảy ra được, và chỉ khi đó chư
vị mới đắc được Pháp này. Nó không dễ dàng chút nào.
Điều
tôi giảng là Phật Pháp. Tôi
nghĩ rằng mọi người đều minh bạch
về điều này. Tôi không
giảng các nguyên lư cho người thường. Hơn nữa, nhiều câu
hỏi mà tôi vừa giảng chưa bao giờ
được thảo luận nơi người
thường, và chúng không phải là hiểu biết của
người thường.
Tôi
vừa giảng sơ qua về vấn đề dùng
thuốc một lần nữa, bởi v́ cái rắc rồi
này đă trở nên nổi bật ở các vùng khác nhau. Một số người
muốn phá hoại Đại Pháp, và nói về việc không
dùng thuốc như thế này, “Một
khi chúng ta bắt đầu tu luyện, chúng ta không
được dùng thuốc”.
Thực tế không phải là tôi không cho phép chư
vị dùng thuốc. Tất
nhiên, các phụ đạo viên có mặt ở đây
cũng nên cẩn thận với cách làm việc của
chư vị và không được ép bất cứ ai
rằng, không được
dùng thuốc. Chúng tôi chỉ giải thích rơ về nguyên
lư. Nếu ai muốn tu
luyện, th́ họ có thể tu.
Nếu họ không muốn tu luyện, thậm chí
nếu họ quyết định dùng độc
dược, đó là chuyện của người
thường. Không ai khác có
thể làm ǵ nếu tâm của họ vẫn không chuyển
biến. Chúng tôi chỉ có
thể giảng về tiền duyên và khuyên mọi
người làm tốt. Ép
buộc người khác không phải là tu luyện.
Tôi
sẽ giảng một vấn đề nữa. Bởi v́ tôi giành cả buổi
chiều cho chư vị, sau khi tôi giảng xong chư
vị có thể đặt câu hỏi và tôi sẽ trả
lời các câu hỏi cho chư vị. Ở Trung Hoa Lục Địa, những
người trẻ tuổi mà đă sinh ra sau thời “Cách Mạng Văn Hoá” có
một hiểu biết rất nông cạn về chư
Phật, Bồ Tát, và Thần.
Điều tôi đang giảng là Phật Pháp. Một số biết rằng
Pháp là tốt, nhưng vẫn không hiểu những danh
từ cơ bản. Họ
biết rất ít về những điều thuộc
về Phật gia. Nói cách khác,
họ không có một sự hiểu biết chính xác về
Phật gia.
Bây
giờ tôi sẽ giảng về Phật A Di Đà và
Phật Thích Ca Mâu Ni.
Điều tôi giảng là khác với kinh sách Phật
Giáo. Điều tôi giảng
cũng là điều mà Phật Thích Ca giảng 2500 năm
trước, nhưng các thầy tu thời đó đă không
truyền xuống cho các thế hệ sau này. Các kinh văn này đă không
được sưu tập một cách có hệ thống
cho đến 500 năm sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập
diệt. Cũng như chư
vị biết, 500 năm trước đây, Trung Quốc
đang ở trong triều đại nhà Nguyên. Có ai ngày nay mà biết Thành Cát
Tư Hăn nói ǵ lúc đó?
Nhưng, rốt cuộc, nó cũng là Phật Pháp. Những điều này đă luôn
được truyền lại, đă bị chắp vá và
qua truyền miệng.
Nhưng nó thường mất đi các nhân tố liên
quan đến điều Phật giảng – thời gian,
địa điểm, ngữ cảnh, hàm ư, và thính giả
- những điều này không c̣n tồn tại nữa. Trong suốt tiến tŕnh nó
được truyền, bởi v́ những người mà
không đạt Viên Măn, c̣n mang quan niệm con người,
và muốn thêm vào những khái niệm của chính họ, mà
họ đă thay đổi Phật Pháp. Họ bỏ ra những phần mà họ không
hiểu, và dần dần nhân cách hoá chư Phật, Bồ
Tát, và Thần. Họ
truyền lại những điều phù hợp với
họ và những điều họ có thể hiểu. Họ không hề muốn
giảng về những điều mà không phù hợp
với điều mà tâm trí họ đang truy cầu, hay
cũng không giảng những điều không phù hợp với
quan niệm của họ, v́ thế mà những phần
đó không hề được truyền lại.
Để
tôi giảng về Phật Thích Ca Mâu Ni trước. Phật Thích Ca Mâu Ni là một nhân
vật lịch sử có thật.
Trên 2500 năm trước ở Ấn Độ
cổ, ngài đă lưu lại cho những người tu
luyện trường phái tu Phật của ḿnh, gọi là: “Giới, Định, Tuệ”.
C̣n về Phật Giáo, đó chỉ là một cái tên
được tạo ra bởi những người liên quan
đến chính trị ngày nay.
Phật Thích Ca Mâu Ni không thừa nhận tôn giáo, ngài
không hề gọi môn tu luyện của ngài là một tôn
giáo. Chính là con người
đă gọi môn tu luyện của ngài là một tôn giáo. Ngài chỉ giảng Pháp của
ngài, giảng đường lối tu luyện của ngài
– Giới, Định, Huệ - một đường
lối giúp con người đạt Viên Măn. Tất nhiên, những ǵ cụ
thể liên quan đến điều này th́ đă
được ghi chép trong các kinh sách, cho nên tôi sẽ không
nói thêm. Cũng như chư
vị biết, Phật A Di Đà có thế giới Cực
Lạc, và Phật Dược Sư có thế giới
Lưu Ly. Mỗi một
vị Phật trụ tŕ một thiên quốc. “Phật”, “Bồ Tát” và “Như
Lai” chính là Hán ngữ của chúng ta. Trên thiên đàng, một vị Như Lai th́
được gọi là Pháp Vương, tức là, vị
này trụ tŕ thiên quốc của ḿnh. Nhưng cách mà họ điều hành không như
cách mà con người điều hành với phương
thức quản lư và luật lệ - họ không hề dùng
những h́nh thức đó.
Họ chỉ dùng từ tâm và thiện. Và nơi đó mọi
người đều tốt.
Chỉ khi chư vị đạt đến tiêu
chuẩn đó th́ chư vị mới vào thiên giới
đó được. Cho nên
mỗi vị Phật đều có một thiên giới mà
ngài trụ tŕ. Nhưng trong
quá khứ, không ai nghe Phật Thích Ca Mâu Ni trụ tŕ một
thiên giới, không ai biết Phật Thích Ca Mâu Ni nguyên
thủy là ai, và cũng không có ai biết thiên giới
của Phật Thích Ca ở đâu. Một số thầy tu cho rằng Phật Thích
Ca Mâu Ni là ở trong thế giới Ta Bà. Nhưng để tôi nói với chư
vị: thế giới Ta Bà ở đâu? Nó ở trong Tam Giới của
chúng ta. Làm sao mà nó là thiên
giới của Phật được? Một nơi nhơ nhớp thế này! Mọi người ai cũng muốn
thoát khỏi nơi đây – nó là thiên giới của
Phật được sao?
Thậm chí các thầy tu cũng không giải thích
được điều này, và cũng không có ghi chép trong
tôn giáo. Thực tế,
Phật Thích Ca Mâu Ni đến từ một tầng
thứ rất cao. Vũ
trụ này to lớn vô cùng.
Trong chốc lát tôi sẽ giảng về cấu trúc
của nó – cấu trúc của vũ trụ. Tầng thứ thấp nhất
nơi Phật Thích Ca ở trước khi hạ thế là
vũ trụ tầng thứ sáu, và từ tầng thứ
đó ngài trực tiếp tái sinh thành con người. Nó không phải là thiên quốc
tầng thứ sáu, mà là vũ trụ tầng thứ
sáu. Trong chốc lát tôi sẽ
mô tả vũ trụ này to lớn nhường nào.
Ngài có
một thiên quốc tại tầng thứ sáu của vũ
trụ. Ngài tạo ra một
thiên quốc ở đó, gọi là Đại Phạm
Thế Giới. Nói một
cách khác, Phật Thích Ca Mâu Ni tái sinh xuống nhân thế
từ Đại Phạm Thế Giới. Để giảng Pháp của
ngài và cứu độ con người – chính là cứu
độ các đệ tử của ngài - ngài đă tái sinh xuống nhân
thế từ Đại Phạm Thế Giới. Và các đệ tử mà
được Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy và
được cứu độ th́ tu được ít
nhất đến vũ trụ tầng thứ sáu hay cao
hơn – đó là họ phải tu cao đến thế. Đó là tại sao từ khi
Phật Thích Ca Mâu Ni hạ thế, ngài đă trông nom
đệ tử của ḿnh trong khi họ tái sinh và tu
luyện và ngài cũng chưa bao giờ trở về
thế giới của ngài.
Trong Tam Giới có một nơi gọi là Đại
Phạm Thiên và đó chính là nơi ngài ở. Đại Phạm Thiên cũng do
ngài đặt tên. Ngài gọi
nó là Đại Phạm Thiên là v́ ngài đă đến
từ Đại Phạm Thế Giới. Ngài đang trông nom các đệ
tử của ḿnh tại nơi đó. Tất cả đệ tử của ngài
đều có kư hiệu đánh dấu trên người. Ngài đánh dấu họ bằng
phù hiệu chữ “Vạn”. Tất cả ai được
đánh dấu chính là đệ tử của ngài. Từ các tầng thứ cao,
chỉ liếc qua một cái là có thể biết ai là
đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni và ai không
phải là đệ tử.
V́ họ phải tu luyện đến một
tầng thứ cao – Phật
Thích Ca Mâu Ni muốn cứu độ họ đến
một cảnh giới cao như thế – cho nên họ không
tu thành trong một đời.
V́ thế mà đời này qua đời khác, họ
đă tu luyện lại lần này đến lần khác
cả hơn 2500 năm qua.
Giờ đây, đây là lần cuối cùng, là họ
sắp đạt Viên Măn. Sau
khi đạt đến Viên Măn trong đời này, ngài
sẽ mang tất cả đệ tử đi với ngài
và tất cả họ sẽ rời khỏi thế
giới Ta Bà. Trong số các
đệ tử Đại Pháp chúng ta, nhiều
người đắc được Pháp này chính là
đệ tử mang dấu của Phật Thích Ca Mâu
Ni. Nhưng hầu hết các
đệ tử mang dấu của Phật Thích Ca là các
thầy tu, mặc dù cũng có một số nơi
người thường.
Rất nhiều người trong số người
thường cũng đă đắc được Pháp
này của chúng tôi. Thực
tế, v́ chúng tôi đă giảng đến điểm này,
tôi cũng muốn giảng với chư vị rằng
với Pháp mà tôi đang giảng đây, không phải là
chư vị phải về Pháp Luân Thế Giới của
chúng tôi. Điều mà tôi
đang truyền giảng là các nguyên lư của toàn vũ
trụ. Tôi đang giảng
điều rất vĩ đại. Tất cả họ cũng đều muốn
đắc được Pháp này.
Bởi v́ vũ trụ mới đă h́nh thành rồi,
và Pháp đang chính vũ trụ, ai có thể trở về
trên đó chỉ qua cách đồng hoá với Pháp của
vũ trụ. Đây là
điều mà Phật Thích Ca Mâu Ni đă an bài một cách có
hệ thống cho đệ tử của ngài từ xa
xưa – ngài đă biết về ngày này. Tôi biết rằng các đệ tử thuộc
rất nhiều thiên giới khác hay của các
đường lối tu luyện chân chính khác cũng
đang đắc được Pháp trong Đại
Pháp. Đa số các
đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni đang ở
tại vùng Hán địa.
Không c̣n ai ở Ấn Độ nữa. Nhưng cũng có một nhóm
người – rất ít – phân tán ở các nơi khác trên toàn
thế giới. Đa số
là họ sống tại Hán địa. Vùng Hán địa chính là Trung Hoa Lục
Địa.
Tôi
vừa mô tả ngắn gọn về t́nh huống của
Phật Thích Ca Mâu Ni và các đệ tử của ngài. Tiếp theo, tôi sẽ giảng về
Phật A Di Đà. Khi
người ta nói về Phật A Di Đà, họ
đều biết có một thế giới Cực
Lạc. Thế giới
Cực Lạc ở đâu?
Và Phật A Di Đà là ai?
C̣n về Phật A Di Đà, các mô tả có thể t́m
thấy trong các kinh sách Phật Giáo, cho nên tôi sẽ không
giảng về phần này. Tôi sẽ giảng về phần không
được ghi chép lại trong các kinh sách. Cũng như chư vị
biết, người ta đă truyền rằng chư
Phật đă giảng về một phần kết
cấu của vũ trụ, và có một nơi gọi là
Tu-Di thế giới – tức là, nói về núi Tu-Di. Trái đất hiện tại
của chúng ta và các thiên thể và ngoài Tam giới th́ là
ở phía nam của núi Tu-Di, và c̣n được gọi là
nam thiệm bộ châu (châu Jambuu-dvipa). Trái đất là ở phía nam của núi Tu-Di
này. Một số
người cố gắng t́m hiểu nó, “Có phải núi Tu-Di là núi Hy Mă Lạp Sơn (Himalayas)
không? Ấn độ
thời đó có phải là nam thiệm bộ châu không?”
Đây là những chủ đề khác nhau. Ngài là Phật. Ngài không hề giảng từ góc
độ hiểu biết của phàm tục – ngài giảng
đạo lư từ góc độ của Thần. Khởi điểm suy nghĩ
của ngài là khác với của con người.
Núi
Tu-Di này tồn tại.
Vậy sao con người không thể nh́n thấy? Và tại sao cũng không thể
thấy nó qua kính viễn vọng?
Đó là v́ nó không phải là được cấu
kết bằng các hạt tử mà do một lớp phân
tử to nhất cấu thành.
Để tôi giảng cho chư vị: các hạt
tử là do các phân tử cấu thành – lại c̣n các hạt tử mà do các nguyên
tử (atom) cấu thành – và đến cả vật
chất mà do các hạt tử đó cấu thành, các hạt
mà do các phân tử cấu thành, và đến cả một
lớp nhỏ hơn các hạt tử gần bề
mặt nhất với chúng ta, đă là vô h́nh đối
với con người rồi.
Tuy thế núi Tu-Di này là do các nguyên tử cấu thành,
cho nên con người không thể nh́n thấy nó
được. Tuy nhiên
gần đây những người trong ngành thiên văn
học và vũ trụ học có thể khám phá một
hiện tượng rằng, dù có bao nhiêu thiên hà mà có
thể quan sát được tồn tại trong vũ
trụ, th́ không có bất cứ thiên hà nào tại chỗ
đó. Ở đâu cũng có
các thiên hà; có rất nhiều, nhiều dải Ngân Hà. Tuy
nhiên tại một chỗ nhất định th́ không có ǵ
cả, như thể là có một lát cắt gọn gàng. Họ gọi đó là “bức tường vũ
trụ”. Họ không
giải thích được tại sao nó lại như
vậy. Tại sao không có
bất cứ thiên hà nào ở bên kia? Thực tế, là nó bị núi Tu-Di chặn
lại, bởi v́ cái núi đó to lớn không tưởng
tượng được.
Nó to thế nào?
Đỉnh của nó nằm tại trung tâm của
tầng thứ hai vũ trụ
– nó vượt khỏi ngoài vũ trụ nhỏ bé này
của chúng ta. Nó thật
sự to lớn. V́ thế
một ngọn núi to như thế là hoàn toàn ngoài sức
tưởng tượng của con người. Không thể cho con người
nh́n thấy những phần khác của nó. Trái Đất là một quả
bóng bé xíu, nhưng nếu chư vị muốn nh́n thấy
Bắc Kinh, từ bên kia của Trái Đất chư
vị không thể nh́n thấy được. Ngọn núi này to như thế,
không có cách nào mà chư vị tưởng tượng
được là nó lớn cỡ nào. Ngài (A Di Đà) cũng giảng rằng trong
một vài phần khác của núi Tu-Di cũng tồn tại
các thế giới khác. Chúng tôi sẽ không tiếp tục
nói quá nhiều về điều đó.
Vậy
tại sao có một ngọn núi như thế? Để tôi giảng về núi
Tu-Di. Tôi có thể giảng cho
chư vị rằng núi Tu-Di thật ra là một h́nh
thức diễn hoá và là h́nh tượng Phật A Di Đà,
Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát. Cũng không hoàn toàn chính xác
nếu gọi đó là h́nh tượng. Bởi v́ họ là Phật, nên họ mang h́nh
tượng con người.
Họ cũng có thể tụ lại thành h́nh, hay phát
tán thành vật chất, nhưng họ có h́nh tượng. Họ có thể phát tán thành
vật chất qua biến hoá. Khi con người không
thể nh́n thấy chư Phật, th́ họ cho rằng
chư Phật là không có thân thể. Thân thể của các vị ấy là do các nguyên
tử cấu thành, nên dĩ nhiên là chư vị không nh́n
thấy thân thể của họ được, và như
thế chư vị cũng đúng khi nói rằng họ
không có thân thể. V́ núi Tu-Di
là do các nguyên tử cấu thành, cặp mắt người
không nh́n thấy được.
Nhưng theo một nghĩa th́ cái núi này đại
biểu cho Phật A Di Đà, Quan Âm Bồ Tát và Đại
Thế Chí Bồ Tát. Núi Tu-Di
này không phải chỉ là một mà là ba ngọn núi. Hơn nữa, nó cũng
chuyển động. Chỉ
có những ǵ trong không gian vật chất này của chúng ta
dường như chết và bất động; mọi
thứ trong các không gian khác đều chuyển
động. Cũng như
chư vị biết, các phân tử đang chuyển
động, nguyên tử cũng vậy, và mọi thứ
đều đang chuyển động, điện tử
quay xung quanh hạt nhân nguyên tử, mọi thứ
đều đang chuyển động - vật chất
đều đang chuyển động. V́ thế núi Tu-Di đôi khi
biến h́nh thành một đường thẳng và đôi
khi biến h́nh thành một h́nh tam giác; nó biến
đổi. Khi người ta nh́n nó từ các góc độ
nhau khác hay nh́n trong các trạng thái khác nhau, họ không nh́n
thấy h́nh tượng chân thực của nó. Nếu nó xếp thành một
đường thẳng, chư vị sẽ thấy nó
như là một ngọn núi.
Một số người tu luyện trong quá khứ có thể
nh́n thấy nó, nhưng họ mô tả nó một cách
khác. Đó chính là v́ họ không
nh́n thấy trạng thái cụ thể của nó. Cho nên v́ nó là biểu tượng
của Phật A Di Đà, Quan Âm Bồ Tát và Đại
Thế Chí Bồ Tát, nó làm ǵ?
Thật ra, thế giới Cực Lạc mà
người ta nói đến là ở ngay bên trong núi Tu-Di. Tuy
nhiên núi này không giống như khái niệm con người
về một loại vật chất trước mặt
chúng ta. Phía dưới
của núi Tu-Di toàn là nước.
Thời gian có hạn, do vậy tôi chỉ giảng
vấn đề này tới đây thôi.
Kế
tiếp tôi sẽ giảng về kết cấu của
không gian vũ trụ. Vũ
trụ này to thế nào?
Rất khó mà mô tả bằng ngôn ngữ của nhân
loại, bởi v́ ngôn ngữ nhân loại không đầy
đủ, và thậm chí nếu mà có thể diễn tả
được, trí tuệ của chư vị không tiếp thụ được và
chư vị cũng không lĩnh hội
được. Nó rộng
lớn khó mà tin nổi. Nó to
lớn thậm chí không tưởng tượng nổi -
đến cả chư Thần cũng không tưởng
tượng nổi. V́
thế không có Phật, Đạo,
Thần nào có khả năng diễn tả được
vũ trụ to lớn nhường nào. Như tôi vừa giảng, cái vũ trụ mà nói
chung chúng ta có thể hiểu được, thật
sự là dải rộng của một tiểu vũ
trụ. Lần trước khi
tôi đến nước Mỹ, tôi đă giảng
rằng: một dải rộng th́ khoảng trên 2.7 tỷ
Ngân Hà với dạng hệ hành tinh – khoảng cỡ này, ít
hơn 3 tỷ - th́ cấu tạo nên một vũ
trụ. Và vũ trụ này có
một cái vỏ, hay là có ranh giới. Và đó là cái vũ trụ mà chúng tôi thường
nói đến. Nhưng
vượt xa ngoài vũ trụ này c̣n có các vũ trụ
khác tận các nơi xa hơn.
Trong phạm vi của một dải rộng
đặc định th́ có 3000 vũ trụ khác giống
như thế này. Tuy thế
cũng có một cái vỏ bên ngoài 3000 vũ trụ này, và
đó chính là một vũ trụ tầng thứ hai
được cấu thành.
Vượt xa hơn vũ trụ tầng thứ hai
này th́ có khoảng 3000 vũ trụ khác cũng kích cỡ
như vũ trụ tầng thứ hai này. Có một cái vỏ bên ngoài
của chúng, và chúng lại tạo nên vũ trụ tầng
thứ ba. Cũng giống
như là các hạt tử nhỏ tổ hợp thành hạt
nhân nguyên tử, hạt nhân nguyên tử th́ tổ hợp
thành nguyên tử, và nguyên tử tổ hợp thành phân
tử - cũng giống như các hạt tử cực vi
quan tổ hợp thành các hạt tử lớn hơn trong
một hệ thống. Vũ
trụ mà tôi vừa mô tả chính là cách mà tất cả
những ǵ bên trong hệ thống đó tổ hợp
lại. Ngôn ngữ này không có
cách nào mô tả nó được; ngôn ngữ nhân loại
không thể diễn đạt nó một cách rơ ràng được. Đây chỉ là t́nh huống trong
một trạng thái. Nhưng
có nhiều, rất nhiều hệ thống – vô số nguyên
tử tổ hợp thành phân tử - trải rộng ra
khắp vũ trụ theo cách như thế. Chư vị có thể nói
rằng, có bao nhiêu vũ trụ cùng kích thước với
vũ trụ nhỏ của chúng ta trong cái vũ trụ
này? Không ai nói chính xác
được. Vừa qua tôi
giảng đến vũ trụ tầng thứ hai, và
vũ trụ tầng thứ ba, và tôi nói rằng Phật
Thích Ca Mâu Ni đă đến từ vũ trụ tầng
thứ sáu. Đây mới
chỉ là nó về cái hệ thống này, thuộc một
hệ thống giống như thế này. Giống như các hạt tử
nhỏ th́ tổ hợp thành hạt tử lớn hơn và
các hạt tử lớn hơn th́ tổ hợp thành
hạt tử lớn hơn nữa, đây là chỉ là nói
trong phạm vi của một hệ thống thôi. Tuy nhiên c̣n có nhiều hệ
thống hơn cái hệ thống của các hạt tử
này nữa. Vô vàn hạt
tử tại các tầng thứ khác nhau trải ra khắp
thiên thể.
Vũ
trụ này là phức tạp phi thường. Tôi đă giảng về nó cụ
thể hơn trong Pháp Hội tại Thụy Điển. Tôi đă giảng về 81
tầng lớp của vũ trụ. Thật ra, có nhiều hơn cả 81 tầng
lớp – chúng không thể đếm bằng đơn
vị của con người.
Đó là v́ đơn vị lớn nhất của con
người là “triệu”.
Đơn vị lớn nhất được
chư Phật dùng là kiếp (kalpa). Một kiếp là bằng hai tỷ năm – hai
tỷ năm tổ hợp thành một kiếp. Thậm chí một người
dùng “kiếp” th́ cũng không thể đếm
được bao nhiêu tầng lớp vũ trụ - nó chi
là bao nhiêu tầng lớp thiên giới, mà là bao nhiêu tầng
lớp các của vũ trụ - nó bao la như thế. C̣n như với nhân loại,
họ không là ǵ đáng kể.
Cũng như tôi đă giảng lần trước,
Trái Đất không là ǵ hơn là một hạt bụi, và
hoàn toàn không đáng kể. Tuy
thế trong phạm vi của dải rộng này th́ có vô vàn
các không gian và kết cấu phức tạp vô cùng. Kết cấu của các không gian
này như thế nào? Tôi
cũng có mô tả nó lần trước rồi. Nhân loại chúng ta đang
sống trong tầng không gian nào?
Chúng ta sống trên vật chất bề mặt mà do
cái tầng lớp lớn nhất của các hạt phân
tử tổ hợp thành; chúng ta sống giữa các phân
tử và các hành tinh – một hành tinh cũng là một
hạt tử, và bên trong vũ trụ lớn, nó cũng
chỉ đơn thuần là một hạt bụi. Vũ trụ này – cái vũ
trụ nhỏ mà tôi vừa miêu tả - cũng chỉ
đơn thuần là một hạt bụi. Hạt tử lớn nhất mà
cặp mắt người nh́n thấy là các hành tinh, và các
hạt tử bé nhất mà nhân loại có thể nh́n
thấy được là các phân tử. Chúng ta nhân loại tồn tại ở giữa
các hạt tử của các phân tử và hành tinh. Ở trong không gian này, chư
vị nghĩ là nó to lắm; nhưng từ một góc
độ khác, thật ra nó hết sức chật hẹp
và nhỏ bé.
Để
tôi giảng từ một góc độ khác nữa. Chẳng phải khoảng cách
giữa nguyên tử và phân tử là một không gian hay
sao? Điều này có thể
rất khó hiểu. Để
tôi giảng cho chư vị rằng các nhà khoa học
hiện đại biết rằng khoảng cách từ
nguyên tử đến phân tử là bằng 200 ngàn nguyên
tử xếp lại.
Nhưng một vật càng nhỏ, tức là hạt
tử càng nhỏ, toàn bộ thể tích của chúng càng
lớn, là v́ chúng tổ hợp thành một diện tại
một tầng đặc định, không phải là các
điểm cô lập. Tuy
nhiên, các phân tử quả thật là rất to. Hạt của vật chất
càng lớn, hay hạt tử càng lớn th́ thể tích
của không gian của nó càng nhỏ - th́ toàn bộ thể
tích không gian của nó càng nhỏ.
Nếu chư vị tiến nhập vào không gian
đó, chư vị sẽ phát hiện nó là một không gian
rộng lớn hơn.
Tất nhiên, chư vị phải đồng hóa
với trạng thái đó th́ chư vị mới tiến
nhập vào không gian đó được. Nếu với tư tưởng
con người, với khái niệm của con người,
và với cách thức của con người hiểu
thế giới vật chất trước mắt chúng ta,
mà chư vị hiểu điều này, th́ nó không có nghĩa
lư ǵ đối với chư vị cả, chư vị
cũng không tiến nhập vào trạng thái đó
được. Nhân loại
cho rằng khoa học tiến bộ lắm. Quả thật là đáng
thương! Cái hoa học này
vẫn chưa đột phá vào không gian của phân tử, và
nó cũng không nh́n thấy được các không gian khác –
tuy thế nhân loại lại tự măn với chính họ -
thậm chí càng không thể nh́n thấy được không
gian mà do các nguyên tử tổ hợp thành. Tôi có thể giảng cho chư
vị rằng, đây là một phân loại theo nghĩa
rộng của các hệ thống của các không gian:
giữa nguyên tử và hạt nhân nguyên tử th́ có một
không gian, giữa hạt nhân nguyên tử và hạt quark th́ có
một không gian, và giữa các hạt quark và trung vi tử
(neutrino) th́ cũng có một không gian. C̣n như bao nhiêu tầng thứ tồn tại
nối tiếp nhau đến tận bản nguyên của
vật chất, th́ không đếm được với
đơn vị của nhân loại hay thậm chí cũng
không đếm được với đơn vị
“kiếp” mà chư Phật sử dụng.
Nếu
nhân loại muốn thật sự nhận thức vật
chất là ǵ, họ chỉ có thể lư giải trong
phạm vi tri thức của nhân loại hiện
đại. Nhân loại
sẽ không bao giờ biết được bản nguyên
tột cùng của vật chất của vũ trụ là
ǵ, và cũng không bao giờ khám phá ra vật chất là
ǵ. V́ thế vũ trụ này
sẽ vĩnh viễn là bí ẩn đối với nhân
loại. Tất nhiên, đây
không phải là nói rằng các sinh mệnh cao tầng sẽ
không bao giờ hiểu nó; người thường không có
cách nào hiểu được vũ trụ này,
ngược lại th́ người tu hiểu
được – chính là qua tu luyện. Với các phương tiện kỹ thuật
của nhân loại, nhân loại sẽ không bao giờ
đạt được khả năng to lớn tại
một cảnh giới của Phật, hay nh́n xuyên qua
được nhiều tầng không gian và vũ
trụ. Bởi v́ con
người có t́nh cảm và dục vọng đủ
loại – có chấp trước đủ loại –
giả thử họ thật sự đạt đến
cảnh giới của Phật, th́ chiến tranh giữa
các tinh cầu hay giữa các vũ trụ sẽ nổ
ra. Nhưng chư Thần
không cho phép nhân loại làm như thế. Đó là tại sao chắc
chắn rất là nguy hiểm cho nhân loại khi khoa học
đạt đến một tầng thức đặc
định. V́ đạo
đức nhân loại sẽ không đạt cao đến
thế, cho nên văn minh nhân loại sẽ bị huỷ
diệt. Đây không phải
là không công bằng – mà chính là v́ nhân loại không c̣n tốt
nữa và chính là v́ đạo đức nhân loại không
nâng lên theo kịp. Nhưng
ngược lại, nếu đạo đức nhân
loại có thể nâng lên theo kịp, th́ nhân loại sẽ
thành Thần và cũng không cần các phương tiện
nghiên cứu – chỉ cần mở mắt liếc một
cái là thấy tất cả.
Vũ trụ là như thế. Nếu chư vị muốn nhận thức
vũ trụ, th́ chư vị phải vược qua
cảnh giới này.
Điều
tôi vừa giảng là những thế giới do các hạt
tử lớn đủ cỡ khác nhau cấu thành. Thật sự th́ c̣n nhiều
hơn những thứ này nữa.
Thậm chí tại ngay trong không gian của các phân
tử, đối với nhân loại th́ có nhiều rất
nhiều không gian vô h́nh.
Như tôi vừa giảng, các hạt tử lớn
nhất mà do các phân tử cấu thành chính là vật
chất mà tạo thành bề mặt ngoài cùng nơi nhân
loại đang sống – thép, kim loại, gỗ, thân
thể người, nhựa, đá, đất, và
đến cả giấy và những thứ khác nữa. Tất cả những thứ mà
nhân loại nh́n thấy được chính là do cái lớp
hạt tử lớn nhất cấu thành, cái lớp này là
do các phân tử lớn nhất cấu thành. Những thứ này th́ nh́n
thấy được.
Thậm chí chư vị cũng không nh́n thấy
được không gian của các hạt tử mà cấu
thành bằng phân tử, các phân tử mà nhỏ hơn
một chút so với các phân tử ở trong cái lớp
hạt tử to nhất.
Thế th́, các phân tử này có thể h́nh thành một
không gian hạt tử thậm chí nhỏ hơn nữa. Giữa các hạt tử nhỏ
nhất và các hạt tử lớn nhất tại bề
mặt, tất cả đều là do các phân tử cấu
thành, th́ tồn tại nhiều rất nhiều tầng
không gian. Nói khác đi, các phân
tử mà tạo ra các hạt tử kích cỡ khác nhau, h́nh
thành các không gian phân tử khác nhau phức tạp phi
thường này. Người
ta không tin: làm sao một người đột nhiên
biến mất và đột nhiên hiện ra chỗ khác. Mặc dù thân thể của
họ là do phân tử cấu thành, nếu các phân tử này
là những hạt rất mịn (điều này có thể
đạt được qua tu luyện), th́ họ có
thể vượt ra ngoài không gian này. Họ đột nhiên biến đi và chư
vị không nh́n thấy họ nữa; sau đó họ
lại đột nhiên hiện ra ở chỗ khác. Nó rất đơn giản.
Vừa
qua tôi diễn giải về cấu trúc của các không
gian. Lần trước tôi
đă giảng chi tiết hơn về không gian. Tôi không thể giảng cho con
người quá nhiều, v́ họ không được phép biết
nhiều như thế. Nhân
loại không thể qua nghiên cứu mà phát hiện tất
cả những ǵ tôi vừa giảng cho chư vị. Khoa học hiện đại
của nhân loại thật sự đă phát triển trên
một cơ sở không chính xác, với hiểu biết
không chính xác về vũ trụ, về nhân loại, và về
sinh mệnh. Đó là tại
sao trong giới tu luyện, chúng ta người tu không
đồng ư với khoa học hiện nay chút nào và c̣n xem
đó là điều sai.
Tất nhiên, người thường đều
học nó theo cách này; nó được chia thành rất
nhiều nghành, và tất cả chư vị đă
đạt được thành quả đáng kể trong
chuyên ngành của chư vị.
Nhưng cơ sở của khoa học là sai. V́
thế nhận thức của nhân loại sẽ măi xa
vời chân lư.
Nhận
thức của nhân loại về khoa học măi măi sẽ
là một tiến tŕnh ṃ mẫm.
Người mù xem voi – cái khoa học này là giống như thế hiện
nay. Nó sờ vào chân voi hay cái
ṿi của con voi, và cho rằng khoa học chính là như
thế. Thật sự th́ nó
không thể nh́n thấy toàn bộ chân lư
được. Vừa qua
tại sao tôi giảng về điều đó? Nhân loại ngày nay nghĩ
rằng con người h́nh thành nhờ tiến hoá, nhưng
học thuyết tiến hoá th́ hoàn toàn không đúng. Chúng ta trong giới tu luyện
cảm thấy rằng con người đang tự ḿnh sỉ
nhục ḿnh. Chúng tôi thấy
rằng nhân loại cho ḿnh là khỉ, quả thật
buồn cười. Nhân
loại hoàn toàn không phát xuất từ tiến hoá. Khi Darwin nêu ra học thuyết
tiến hoá của ḿnh, nó có đầy sơ hở trong
đó, thiếu xót to nhất là thiếu mất các giai
đoạn tiến hóa từ khỉ trở thành
người và từ đời sống cổ đại
cho đến đời sống hiện đại – không
những phần đối với con người cũng
thiếu, mà cả phần đối với sinh vật và
động vật khác cũng thiếu. Giải thích thế nào đây? Thật ra, nhân loại có các
trạng thái sinh sống khác nhau trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Tức là, môi trường
sống của nhân loại đă xuất hiện chính là
để cung cấp cho nhân loại trong một thời
điểm đặc định.
V́
chúng ta đă giảng đến chủ đề này, tôi
sẽ giảng một chút về những khái niệm
của nhân loại hiện đại. V́ đạo đức suy đồi, nhiều
khái niệm đă trải qua những biến đổi
đặc định.
Nhiều nhà tiên tri trong quá khứ cũng nói rằng:
vào một thời điểm đặc định, con
người sẽ tự ḿnh biến thành như yêu
quái. Chư vị thấy
họ nhuộm tóc màu đỏ thế nào, hay chỉ
chừa lại một lọn tóc ở giữa và cạo
trọc hai bên. Họ c̣n nói
rằng, vào thời điểm đặc định nhân
loại sẽ bị đối xử tồi tệ
hơn cả chó. Nhiều
người đối xử với chó như là con
của ḿnh, cho chúng uống sữa, mặc quần áo hàng
hiệu cho chúng, đẩy chúng đi dạo bằng xe, và
c̣n gọi chúng là “cục
cưng”. Trong khi đó,
nhiều người đang xin ăn trên đường
phố - tôi đă từng
gặp những người như thế - ở Mỹ
cũng có người xin ăn.
Họ đưa tay xin, “Làm
ơn cho tôi vài xu.” Thật sự họ c̣n thảm
thương hơn cả chó.
Nhưng tôi có thể nói với chư vị rằng,
nếu không có nhân loại trên Trái Đất, th́ không có ǵ
tồn tại cả. Chính là
v́ nhân loại tồn tại, mà Trái Đất có tất
cả những thứ này.
Tất cả động vật, sinh vật, và
thực vật đều được sinh ra là v́ con người,
bị huỷ cũng là v́ con người, được
tạo ra cũng là v́ con người, được
sử dụng cũng là v́ con người. Không có con người, th́ không có
ǵ tồn tại cả.
Lục đạo luân hồi cũng tồn tại v́
con người. Mọi
thứ trên Trái Đất được tạo ra là cho con
người. Ngày nay, tất
cả các khái niệm này đang bị đảo
ngược. Làm sao mà
động vật ngang bằng như con người
được?! Ngày nay,
động vật chiếm thân người và trở thành
sư phụ của họ - trời không tha chuyện
này! Làm sao chấp nhận
điều đó được? Con người là trân quư
nhất; họ có thể tu luyện thành Thần hay
Phật. Ngoài ra, tất
cả nhân loại đều đến từ các tầng
thứ cao, trong khi đó th́ nhiều sinh mệnh là được
tạo ra ở đây – tạo ra trên Trái Đất này. Tôi chỉ giảng sơ qua
vấn đề này thôi.
Chúng
tôi không nghĩ rằng học thuyết tiến hoá mà tôi nêu
ra vừa qua là đă từng xảy ra. Qua bao nhiêu niên đại, nhân loại nhiều
lần đă trải qua các nền văn minh thuộc các
thời kỳ khác nhau. Mỗi
lần đạo đức nhân loại trở nên suy
đồi, th́ nền văn minh của nhân loại đó
bị huỷ diệt.
Rất ít người c̣n sống sót lúc cuối
cùng. Họ kế thừa
một chút văn hoá từ nền văn minh lần
trước và phát triển sau khi trải qua một
thời kỳ đồ đá khác. Thời kỳ đồ đá không chỉ
giới hạn cho một thời kỳ thôi – mà đă có
nhiều thời kỳ đồ đá nữa. Các khoa học gia hiện nay
đă phát hiện một số vấn đề: nhiều
văn vật khảo cổ t́m thấy không chỉ là
từ một thời kỳ.
Nhưng khi họ cố gắng khớp chúng vào
học thuyết tiến hoá, th́ họ không giải thích
được khi đối mặt với thực
tế. Chúng tôi phát hiện
rằng nhân loại trên Trái Đất này, chính là con người
đến từ các thời kỳ lịch sử khác nhau,
đă lưu lại nhiều di tích văn hoá của các
thời kỳ khác nhau. Con
người hiện đại đều cho rằng các
kim tự tháp ở Ai Cập cổ đại là do
người Ai Cập xây dựng.
Nhưng các kim tự tháp đó không có quan hệ ǵ
với người Ai Cập hiện nay cả. Tức
là, nhân loại và dân tộc có nhận thức sai
lầm về lịch sử của họ. Các kim tự tháp và người Ai
Cập không có quan hệ nào cả.
Các kim tự tháp kia đă được xây dựng
trong một nền văn minh tiền sử, và đă
bị ch́m xuống nước khi một lục
địa dịch chuyển.
Khi nền văn minh kế tiếp sắp nổi lên
và các lục địa mới được tạo ra,
th́ từ sâu trong nước các kim tự tháp đó nổi
lên. Nhóm người đó
đă ra đi lâu rồi, và sau đó người Ai Cập
hiện đại th́ đến sau này. Sau khi khám phá ra chức năng của các kim
tự tháp này, người Ai Cập xây một số kim tự tháp nhỏ hơn
giống như những cái này.
Họ khám phá các kim tự tháp là rất tốt cho
việc bảo quản quan tài bên trong, v́ thế họ
bỏ các quan tài vào trong đó.
Có những cái mới được xây, có những
cái là đă có từ quá khứ xa xôi. Điều này làm con người ngày nay không h́nh
dung được là kim tự tháp thật sự
đến từ thời kỳ nào. Lịch sử đă bị xáo trộn cả
rồi.
Nhiều
người cho rằng văn hoá của người Maya là
liên quan với người Mễ ngày nay. Thật ra, nó không có liên hệ ǵ
với người Mễ cả, nhóm người này
chỉ là một chủng tộc pha trộn giữa
những người Tây Ban Nha và người bản
xứ. Văn hóa Maya, mặt
khác, là thuộc về thời kỳ của văn minh
tiền sử lần trước đó trong lịch
sử. Chủng tộc này
đă bị tiêu diệt tại Mễ Tây Cơ, và chỉ
c̣n lại một nhóm nhỏ sống sót. Nhưng văn hoá người
Maya lại có liên hệ trực tiếp với người
Mông Cổ. Tôi sẽ không
đi sâu vào chi tiết tại đây. Nhân loại không biết nguồn gốc lịch
sử của ḿnh.
Tương tự như thế với người
người da trắng. Trong
nạn đại hồng thuỷ cuối cùng trước
đây – nền văn minh nhân loại lần trước
đă bị đại hồng thủy tiêu hủy hết
– tất cả ngọn núi lớn trên Trái Đất mà chiều
cao thấp hơn 2000 mét đều bị ngập, và
chỉ có những người sống ở nơi cao
hơn 2000 mét th́ sống sót.
Truyền thuyết về con thuyền Noah là có
thật. Trong nạn
đại hồng thuỷ đó, văn hoá Tây phương
đă bị phá huỷ hoàn toàn, và văn hoá Đông
phương cũng bị tàn phá.
Nhưng người miền núi, những người
sống tại khu vực núi Hy Mă Lạp Sơn (Himalaya) và
núi Côn Luân và những người miền quê th́ may mắn
thoát nạn – người Trung Quốc mà sống tại
đỉnh núi Côn Luân th́ sống sót. Lúc ấy, văn hoá Đông phương rất
phát triển; Hà Đồ, Lạc Thư, Kinh Dịch, Thái
Cực, Bát Quái, và nhiều thứ khác đă được
kế thừa từ quá khứ.
Người ta cho rằng những thứ đó là do
người này người kia thuộc thế hệ sau
này tạo ra. Những
người đó chỉ sửa đổi chúng và phổ
biến lại lần nữa mà thôi. Chúng không phải do những người đó
tạo ra, và tất cả là từ văn hoá tiền
sử. Mặc dù những
thứ này đă được truyền lại ở Trung
Quốc, thậm chí c̣n nhiều nữa trong tiến tŕnh
phát triển của Trung Quốc trong lịch sử. Nhiều thứ đă được
bảo quản từ thời cổ xưa, nhưng khi
được truyền xuống th́ càng ngày càng ít
đi. V́ thế một
quốc gia với nền tảng văn hoá dồi dào và
nguồn gốc lịch sử sâu xa – đó chính là Trung
Quốc. Văn hoá của
người da trắng, mặt khác, đă bị xoá
sạch sau khi nó bị ch́m do nạn đại hồng
thuỷ đó. Lúc ấy,
dọc theo lục địa của Âu châu th́ có một
lục địa khác cũng bị ch́m. Đó là khu vực phát triển
nhất của họ, và nó cũng ch́m. V́ vậy người da trắng phải phát
triển lại từ không có – không có một nền văn
minh nào cả - cho đến khoa học mà họ có hôm nay.
Khoa
học của Trung Quốc cổ đại là khác với
khoa học thực nghiệm của Tây phương. Nhiều nhà khảo cổ đă
từng thảo luận các vấn đề này với tôi,
và tôi đă giải thích tất cả cho họ. Họ cũng cảm thấy
đây chính là trường hợp này, bởi v́ họ có
nhiều câu hỏi hóc búa mà không giải thích
được. Như tôi
vừa giảng, nhận thức của nhân loại về
vũ trụ không thể tiến xa hơn được. Ngày nay, xuất phát điểm
nghiên cứu của nhiều khoa học gia là sai. Đặc biệt là những
người đă đạt thành quả trong lĩnh
vực của họ, họ không từ bỏ chúng
được. Họ
định nghĩa những ǵ họ hiểu và c̣n
thiết lập giới hạn.
Nhiều người trong chư vị thính giả
đây là sinh viên du học bên ngoài Trung Quốc, tiến
sĩ, thạc sĩ với đầu óc phóng khoáng. Chư vị sẽ phát hiện
rằng những định lư của họ chỉ
đúng trong phạm vi cảnh giới của họ,
nhưng hễ chư vị ra vượt ra ngoài nhận
thức của họ và cảnh giới của họ, th́
các định lư này là sai và hạn chế. Một nhà khoa học có thành
quả thật sự là người mà dám đột phá
những giới hạn này. Cũng
như Einstein, điều ông nói chỉ đúng trong cảnh
giới nhận thức của ông; nhưng vượt qua
cảnh giới đó, điều ông nói được
nhận thức là sai. Chư
vị có nh́n thấy đạo lư không? Đó là v́ khi con người thăng hoa, khi
trạng thái tư duy của chư vị tiến
đến chân lư của cao tầng, và khi chư vị tiến
đến các tầng thứ cao, chư vị sẽ phát
hiện rằng nhận thức ở các tầng thứ
thấp là sai. Sự thể
là như vậy.
Chẳng
phải hiểu biết của nhân loại về vật
chất là sai hay sao? Nhân
loại đang đứng trong không gian giữa vật
chất bề mặt mà cấu thành bằng cái lớp phân
tử và hành tinh to nhất, vậy mà họ đă lẫn
lộn rồi. Họ phát
triển cách này cách kia chỉ trong phạm vi này, và c̣n
nghĩ rằng đây là khoa học tuyệt đối,
đây là hiểu biết duy nhất về vật chất,
và đây là tiến bộ nhất.
Đó chỉ là một hiểu biết về thế
giới vật chất trong phạm vi của một
hạt tử, hết sức, hết sức nhỏ bé trong
khoảng không vũ trụ bao la và phức tạp này, và nó
lại c̣n bị hạn chế trong một không gian nhỏ
bé. Cấu trúc của các hành
tinh mà tôi mô tả vừa qua mới chỉ là một hệ
thống. Một chút không gian
chư vị mới t́m hiểu ra chỉ là trong phạm vi
của một hệ thống vụn vặt – một
hệ thống với kích thước của một
hạt bụi, và là một trong số hàng tỷ vô số
các không gian. Tức là, chỉ
là một hiểu biết trong phạm vi của một
không gian bé xíu. Hỏi chư
vị nói có đúng không? Cho
nên nền tảng khởi điểm của phát triển
và nhận thức của khoa học nhân loại là sai. Sinh mệnh và nguồn gốc
của nhân loại thậm chí c̣n phức tạp hơn
để mà nói, cho nên tôi không giảng về chúng. Đó là v́ nếu tôi giảng thêm
nữa th́ nó sẽ liên quan đến nguồn gốc
của sinh mệnh, cũng vô cùng phức tạp. Ngoài ra, nếu tôi giảng quá
nhiều và giảng những ǵ tại các tầng thứ
quá cao, mọi người sẽ không tin, bởi v́ dù sao th́
con người cũng chỉ có tư tưởng của
con người. Trong khi tôi
đang giảng đây, các Thần cũng tin khi họ nghe
về nó, bởi v́ tư tưởng của họ là
của Thần. Họ nh́n nó
trong cảnh giới của họ, và cách suy nghĩ của
họ hoàn toàn khác hẳn so với của con người.
Tôi
giải thích cách này có rơ ràng cho chư vị không? Để tôi hỏi chư
vị: theo cách mà tôi vừa giảng, chư vị có
hiểu hay không? (Vỗ tay) Có điều mà tôi
thường giảng, và tôi cũng nhấn mạnh
nhiều lần điều đó hôm qua: duyên phận. Nhiều người trong chúng ta
luôn muốn giới thiệu Đại Pháp này cho nhiều
người. Với một số
người, vừa khi chư vị giới thiệu
Đại Pháp cho họ, th́ họ nghĩ rằng quá
tốt và muốn tự học.
Có lẽ những người này có duyên phận.
Với những người khác, thậm chí là thân nhân trong
gia đ́nh chư vị, khi chư vị giới thiệu
Đại Pháp cho họ, họ không muốn nghe và cũng
không tin – họ không tin dù chư vị nói thế nào. Để tôi nói cho chư vị
biết, có thể là họ không có duyên phận. Tất nhiên, t́nh huống này không
xuất hiện chỉ riêng với duyên phận. Đối với một số
người, có thể là v́ ngộ tính của họ quá
thấp hay họ mang một số nghiệp quá to.
Hôm nay
tôi sẽ chọn riêng ra và giảng về duyên phận. Duyên phận là ǵ? Tôi đă giảng điều này
trước đây. Giới
tu luyện luôn nhấn mạnh về duyên phận. Duyên phận được
thiết lập thế nào?
Thật ra, để tôi giảng cho chư vị,
duyên phận mà chúng ta trong giới tu luyện bàn đến
không thể diễn giải trong một giai đoạn
ngắn của lịch sử.
Nó vượt quá một đời người,
thậm chí cả vài đời người, thậm chí c̣n
lâu dài hơn nữa. Cái duyên
phận này không kết thúc.
Tại sao nó không kết thúc?
Vừa qua khi tôi giảng về trả nghiệp, tôi
có đề cập về sinh mệnh của một
người được xét như thế nào. Khi xét một sinh mệnh, th́ xét
sự tồn tại toàn bộ của người này,
không phải chỉ một đời. Cũng giống như sau khi chư vị
ngủ, có thể chư vị không nhận hôm nay rằng
đó là chư vị hôm qua?
Không được! V́
thế duyên phận một người có liên quan
đến một quăng thời gian rất dài. Điều tốt có thể
được để lại, điều xấu
cũng có thể được để lại. Nói cách khác, các quan hệ nhân
quả giữa con người cũng không chấm
dứt. Thường th́ duyên
phận mà người ta nói đến là duyên phận gia
đ́nh, tức là, duyên phận giữa chồng và vợ -
đó là điều mà được đề cập
đến thường nhất.
Thật ra, tôi giảng về duyên phận giữa
chồng và vợ trước đây. Đây là vấn đề của người
thường. V́ tôi đang bàn
về duyên phận, tôi sẽ giảng về điều
này. Duyên phận h́nh thành
như thế nào? Hầu
hết trong các trường hợp, thường
thường là thế này: trong đời trước,
một người ban đặc ân cho một người
khác và người này không thể báo đáp – có thể là
người này là một công chức nhỏ hay rất nghèo
trong đời đó.
Người này được lợi rất
nhiều từ cái đặc ân đó, cho nên người
này muốn báo đáp. Thế
th́ kết quả có thể đưa đến duyên
phận giữa chồng và vợ.
Cũng có thể là trong đời trước
một người yêu thương một người khác
hay cả hai đều yêu thương nhau, nhưng họ
không có duyên phận và không thể lập gia đ́nh; thế
th́ kết quả có thể đưa đến một
duyên phận của chồng và vợ trong đời sau. Đây là v́ ước muốn
của một người là rất quan trọng – chư
vị muốn ǵ, và chư vị muốn làm ǵ. Nếu chư vị nói, “Tôi muốn tu quả vị
của Phật” th́ một vị Phật có thể giúp
chư vị. Tại sao
thế? Một niệm này
thật là trân quư, trong một môi trường khó khăn
thế này mà chư vị vẫn muốn tu thành
Phật. Nói cách khác, nếu
một người muốn thành ma, th́ cũng không ngăn
chặn được. Làm
sao chư vị có thể ngăn chặn người này
nếu họ muốn làm điều xấu? Họ không nghe chư vị và
khăng khăng làm chuyện đó. Cho nên ước muốn của một
người là rất quan trọng.
Hơn
nữa, c̣n có các duyên phận h́nh thành bởi người
thân và bạn tốt, học viên hay là đệ tử, hay
bởi ân oán mắc nợ giữa con người, tất
cả đều có thể khiến chư vị trở
thành một gia đ́nh hay thuộc về cùng nhóm. Trong xă hội, chư vị có các
quan hệ xă hội, và môi trường này cho phép căng
thẳng giữa người và người
được giải quyết và ân oán được hồi
báo. Tất cả đều
là duyên phận – nói về duyên phận là thế. Các duyên phận không phải
đến từ một đời; mà có thể
đến từ nhiều đời hay đến từ
đời trước. Nó
liên hệ tới loại t́nh huống này. Chúng tôi cũng thấy rằng,
v́ nó có loại liên hệ này, tức là, một người
có ân oán trong một đời, có người thân và bạn
tốt, có vợ và con, và nhiều nữa, rất có thể
là có ân oán trong nhóm này – một người đối xử
với người khác tốt, một người
đối xử tệ với người khác, một
người báo đáp người kia ... Những
điều này sẽ tạo nguyên nhân khiến họ tái
sinh cùng một nhóm trong đời sau. Tuy nhiên họ không đến cùng với nhau,
không phải là họ sẽ tái sinh cùng với nhau. Thời điểm mà họ
đến trong thế giới này sẽ khác nhau, nên có
người già hơn và có người trẻ hơn. Dù sao th́ cũng có mối liên
hệ đặc định trong nhóm người này,
họ sẽ tái sinh vào các thời điểm khác nhau. Chư vị sẽ phát hiện
ra rằng ai đó dạo phố không thuộc về nhóm
của chư vị, ai không có duyên phận với chư
vị, hay không có liên hệ ǵ với chư vị,
dường như là thuộc về một thế
giới hoàn toàn khác với chư vị. Dường như chư vị
không có liên hệ ǵ với họ.
Chư vị cũng sẽ phát hiện những
người mà dường như thuộc về một
loại người khác.
Thế th́ những người này là không thuộc
về nhóm của chư vị, và chư vị không có chút
duyên phận ǵ với họ cả. V́ thế mọi người thường tái
sinh cùng một nhóm và đến vào các thời điểm
khác nhau – một số sẽ thành cha mẹ, một số
sẽ thành con cái, một số sẽ thành bạn bè,
một số sẽ thành kẻ thù, và một số sẽ
thành ân nhân. Đây là duyên
phận mà tôi vừa giảng.
Tất
nhiên, người mà tu luyện cũng không thoát khỏi
duyên phận như thế.
V́ chư vị muốn tu luyện ... Trong quá khứ
có giảng rằng nếu một người tu luyện,
thậm chí tổ tiên người này cũng tích đức
và thậm chí tổ tiên cũng được lợi
ích. Không phải là nếu
chư vị tu luyện và tu thành Phật, th́ họ sẽ
không phải trả tội nghiệp và tất cả
sẽ thành Phật – điều đó không được
phép. Có nghĩa là trong khi
chư vị tu luyện, họ đă biết trước
rằng chư vị sẽ đắc được Pháp
vào đời này, có lẽ trong số người xung quanh
chư vị th́ có những người tái sinh thành họ
hàng của chư vị, và có lẽ chư vị sẽ
tạo điều kiện cho họ, những người
có ân oán với chư vị, đắc được Pháp
– có thể là mang đến loại quan hệ này. Tất nhiên, tu luyện không có
liên hệ với t́nh thân gia đ́nh. Không có liên hệ
ǵ với t́nh thân gia đ́nh th́ sẽ cắt đứt
sự kiềm chế này, v́ thế mà người ta tu
đơn độc hay đơn truyền cho một
người và tự ḿnh chọn một đệ
tử. Đây là cách mà
người ta tu luyện trong các thế hệ quá khứ. Phổ độ là nhân duyên mà
chúng tôi đang giảng hôm nay.
Cái nhân duyên mà tôi giảng là có liên hệ với
tất cả chư vị trong thính giả đây. Rất có thể là chư vị
có duyên đắc được Pháp. Vậy loại nhân duyên này đă h́nh thành như
thế nào? Nhiều
người trong chư vị ở đây đến
để đắc được Pháp, họ đến
chỉ v́ một mục đích này thôi. Có thể họ là thân nhân thân thích của tôi,
bạn bè tôi, và là đệ tử của tôi từ bao nhiêu
đời khác, hay những người do nhân duyên khác. Nhưng tu luyện không liên quan
đến mối quan hệ họ hàng của người
thường – không có loại như thế. Tôi luôn giảng rằng có một
số người đến để đắc
được Pháp. Có thể
họ đă thệ ước trong quá khứ và muốn
đến chịu khổ để đắc
được Pháp – đây cũng là một yếu tố. Đó là tại sao tôi
thường nói rằng tôi khuyên chư vị đừng
bỏ lỡ cơ hội đắc được Pháp
lần này chỉ v́ một chốc lát suy nghĩ sai lầm
trong đời này, chư vị sẽ vĩnh viễn
hối tiếc và sẽ không thể tạo lại
được. Thực
tế, tôi nhận thấy mối duyên phận này phần
lớn đă và đang lôi kéo chư vị. Không ai bị bỏ lại và
tất cả chư vị đang đắc
được Pháp. Sự
khác biệt duy nhất là ở chỗ mức độ
tinh tấn và tiến bộ.
Tiếp
theo, tôi sẽ giảng về một vấn đề khác:
h́nh thức tu luyện.
Tôi cũng đă giảng về đến vấn
đề này hôm qua. Một
số đệ tử nêu lên vấn đề là: có nên
lập gia đ́nh hay không lập gia đ́nh. Một số th́ không muốn
lập gia đ́nh và muốn vào núi tu luyện; một
số th́ có quan điểm khác. Có rất nhiều, rất
nhiều đệ tử đang tu luyện Đại Pháp
cũng có ư nghĩ đó. Tuy
rằng chư vị biết Pháp mà tôi đang truyền
chủ yếu là để tu luyện trong xă hội
người thường, mục đích tu luyện là
đề cao Chủ Ư Thức hay Chủ Nguyên Thần
của con người. V́
chư vị ư thức và biết rơ ḿnh đang chịu đựng
thống khổ, đồng thời tâm chư vị
bất động trong khi nh́n thấy rơ ràng lợi ích cá
nhân của ḿnh bị xâm phạm, chẳng phải là chư
vị đang tu luyện chính ḿnh hay sao? Nếu không phải là chư vị đắc
được Pháp này, th́ là ai đây? Giả sử nếu chư vị thật
sự vào núi tu luyện và tránh các xung đột và va
chạm này, th́ sự tu luyện của chư vị
sẽ chậm. Khi một người
rũ bỏ đi các chấp trước một cách
chậm chạp như thế qua tiến tŕnh tu luyện
nhiều năm, và không đắc được Pháp này,
rất có thể là Phó Nguyên Thần người đó
đă tu luyện. V́ chư
vị không có những điều kiện này khi chư
vị tu luyện sâu trong núi, có thể chư vị cần
ngồi thiền và nhập định – và nhập định
trong một thời gian dài.
Trong trạng thái đó, chính bản thân chư vị
không biết được ḿnh đang tu luyện hay không,
bởi v́ chư vị không thật sự đề cao
bản thân ḿnh trong môi trường phức tạp như
thế. T́nh huống là
thế. Người mà theo tôn
giáo cũng có thể tu luyện Chủ Nguyên Thần
của họ, nhưng xă hội người thường
là nơi mà tâm tính của một người
được rèn luyện tốt nhất.
Các
phương pháp tu luyện trong quá khứ mà chúng ta nghe nói
đến – không kể là tôn giáo nào hay phương pháp tu
luyện nào trong lịch sử - những ǵ được
truyền lại là dạy con người vào núi hay vào tu
viện để tu, hoàn toàn cắt đứt thế
tục và cách ly t́nh cảm gia đ́nh. Thậm chí, khi cha/mẹ một người
đến thăm họ trong tu viện, họ có thể
không nhận: “Thí chủ t́m ai?”
“Tôi t́m con. Con là con trai của tôi.” “A Di Đà Phật, thí chủ, ông nhầm tôi với
ai rồi. Tên tôi là ….” bởi v́ người này đă
được đặt một Pháp danh. “Tôi là một đệ tử Phật môn. Tôi không phải là con của thí
chủ.” Họ thật
sự đă cắt đứt tất cả quan hệ
trần tục. C̣n như các
thầy tu ngày nay, tất nhiên, họ không c̣n tu luyện
nữa; và họ thậm chí c̣n kiếm tiền và gửi
một phần về nhà. Tu
luyện chân chính [trong các môn tu luyện đó] đ̣i
hỏi cắt đứt liên
hệ trần tục.
Tại sao người ta nói rằng, khi một người
trở thành thầy tu, vị này không c̣n được xem
là người b́nh thường nữa? Nguyên nhân là như thế. Vị này đă trở thành thần hay bán-thần. Mặc dù con người không
thể tu luyện [trong các môn tu luyện đó] nữa,
nhiều người vẫn thường bị các phương
pháp tu luyện cổ xưa đó can nhiễu, và lại
cũng muốn tu luyện Đại Pháp theo cách đó. Trong tương lai điều
này có thể làm được, nhưng hiện tại th́
không có điều kiện cho nó.
Pháp mà tôi đang truyền hôm nay chỉ có thể áp
dụng h́nh thức tu luyện này trong hiện tại, và
tôi, Sư Phụ chư vị, chính tôi cũng không ở
trong núi. V́ thế, các vị
không nên nghĩ măi về việc vào núi mỗi khi chư
vị nghĩ đến tu luyện, nghĩ về việc
thành thầy tu hay ni cô mỗi khi chư vị nghĩ
đến tu luyện, nghĩ về việc không lập
gia đ́nh mỗi khi chư vị nghĩ đến tu
luyện, hay nghĩ về việc thay đổi cách
sống của người thường mỗi khi chư
vị nghĩ đến tu luyện. Nó không phải như vậy. Có nhiều h́nh thức tu luyện. Trong số 84000 pháp môn, pháp môn
của chúng ta không phải là pháp môn duy nhất tu luyện
theo cách này. V́ thế, tôi
mới nói rằng, chư vị không nên bị ảnh
hưởng bởi một vài h́nh thức tu luyện trong
quá khứ hay những quan niệm cố hữu. Những ǵ tôi đang truyền
cho chư vị hôm nay là một đường lối tu
luyện hoàn toàn mới mà có thể thật sự cứu
độ chư vị nhanh nhất. C̣n về tương lai, th́ sẽ có các h́nh
thức tu luyện thích hợp cho lúc đó. Thực tế, như tôi đă
giảng trong sách, một người muốn tu luyện
th́ không dễ dàng ǵ. Chư
vị cứ tu và tu măi, nhưng chư vị không thật
sự tu luyện chính bản thân ḿnh và đến cả
chư vị cũng không biết điều đó!
Tôi có
thể giảng cho chư vị rằng từ quá khứ
xa xưa, nhiều vị Thần đă phát hiện rằng
cứu độ Chủ Nguyên Thần của con
người quả thật là khó khăn, cho nên họ
đă chọn con đường cứu độ Phó Nguyên
Thần. Một vị
[Thần] th́ độ con người cách này và thấy cách
đó cũng khá tốt, rồi vị khác cũng phát
hiện cứu độ người cách này cũng
tốt, thế rồi tất cả các vị ấy
cứu độ con người theo cách này, và kết
quả đưa đến một h́nh thức cứu
độ con người mà đă được chấp
nhận. Nhưng đó là
bất công đối với con người – một người
tu luyện, nhưng người khác được cứu
độ. Chính v́ sự
bất công này, mà họ không dám phổ biến hay cho
người ta biết. Tôi
vừa chỉ nó ra cho mọi người biết. Tại sao? Bởi v́ điều tôi muốn là giúp con
người thật sự đắc được Pháp,
thay đổi cái t́nh huống này, và cho giúp chính bản thân
chư vị tu luyện.
Đồng thời, mọi người tu luyện
cách này th́ xă hội được lợi ích – khi chư
vị đề cao chính ḿnh, chắc chắn chư vị
là một người tốt trong xă hội, c̣n ǵ tốt
hơn. V́ thế mục
đích của tôi chính là chuyển đổi cái vấn
đề này. Nhưng một
số Thần lên được trên đó sau khi tu
luyện theo cách đó từ bao nhiêu niên đại – họ
tu luyện lên trên đó bằng cách tu Phó Nguyên Thần. Cho nên tất cả họ đă
cản trở việc tôi giảng điều này cho chư
vị. Mọi người
hăy suy nghĩ: truyền Pháp này quả thật không dễ
dàng ǵ, và đắc được Pháp cũng không dễ
dàng ǵ. Cuối cùng chư
Thần, Phật, và Đạo đă hiểu rằng tôi
đang làm ǵ và nh́n thấy kết quả thật là tốt
– bây giờ họ biết rồi.
Mọi
thứ rất khó khăn thời mà tôi truyền Pháp ở
Trung Quốc. Hiện tại
tất nhiên tương đối dễ dàng truyền Pháp;
nhất là ở Mỹ, thật sự rất dễ dàng cho
chư vị nghe Pháp. Như
tôi đă giảng vừa qua, h́nh thức tu luyện của
chúng ta không nên bị các quan niệm cố hữu ảnh
hưởng; đây là cách chúng ta tu luyện. Tất nhiên, sau cái lô đệ
tử này nhóm của chư vị tu thành rồi,
người tương lai sẽ có cách tu luyện của
họ. Người
tương lai sẽ không được phép biết
về Pháp nhiều thế này.
Chúng tôi truyền Pháp này là v́ đây là một thời
điểm đặc biệt trong lịch sử. Người thuộc về
tương lai xa sẽ không biết được tôi là
ai, và chúng tôi sẽ không để h́nh ảnh của chúng
tôi cho họ. Các băng thu âm,
băng h́nh, sẽ không được lưu lại cho
tương lai, thậm chí là chư vị đă ghi âm chúng;
tất cả sẽ bị xoá.
Thời Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ đạo
đệ tử của ḿnh tu luyện, ngài không cho phép
đệ tử giữ tiền hay có tài sản, e rằng
họ phát sinh tâm chấp trước vào những lợi
ích vật chất đó. Nên
họ không được phép giữ bất cứ cái ǵ
ngoài cái cáo cà-sa và bát ăn xin.
Nhưng tất cả họ cũng thường có
nhiều chấp trước khó buông bỏ. Trong một thời gian
đặc định, nhiều người bắt
đầu thu thập các bát ăn.
Một số nói rằng: “Cái
bát của tôi bằng đồng, cái bát của tôi bằng
ngọc, cái này của tôi trông đẹp, cái này của tôi
bằng bạc.” Một
số tu sĩ c̣n sưu tập rất nhiều bát. Phật Thích Ca Mâu Ni bèn nói: “Nếu chư vị c̣n những
chấp trước về tài vật, cũng có thể
chư vị nên về nhà thôi, bởi v́ chư vị có
mọi thứ ở nhà và chư vị có thể sưu
tập các đồ vật và giữ chúng. Tại sao chư vị không
vứt bỏ được chấp trước v́
chỉ một cái bát xin ăn?
Một tu sĩ cần từ bỏ mọi
thứ. Tại sao không
chịu vứt bỏ cái suy nghĩ về sưu tầm bát
xin ăn đó? Chư vị
đă từ bỏ tài sản của chư vị, tại
sao chư vị vẫn c̣n dính mắc vào mấy cái bát?” Giảng điều này,
Phật Thích Ca Mâu Ni ngụ ư rằng đệ tử không
nên ôm giữ thậm chí chỉ là một ư nghĩ hay
một chút chấp trước – nó cần phải loại
bỏ đi. Ngài không cho phép
họ có cái chấp trước đó.
Thời
Phật Thích Ca Mâu Ni, cái bát của thầy tu là rất bé, và
họ chỉ có thể xin được một bữa
ăn mỗi một lần.
Thầy tu ngày nay cầm
một cái bát to. Một cái bát
bố thí mà đă được dùng trong quá khứ,
nhưng bây giờ th́ họ dùng cái chuông úp ngược –
họ đi xin với một cái chuông úp ngược. Và họ cũng không muốn
thức ăn chư vị đưa – họ muốn
tiền. Chấp trước
quá mạnh vào lợi ích vật chất và tiền bạc –
đó có phải là tu luyện không?
Tôi có thể nói với chư vị rằng: tiền
bạc chính là trở ngại lớn nhất cho
người tu. Điều
tôi vừa giảng là về các thầy tu. Tuy nhiên, tu luyện Đại
Pháp không xem trọng vật chất, nhưng lại xem
trọng tâm tính. Bởi v́
chư vị tu luyện trong khi làm việc trong xă hội
người thường, chư vị có bao nhiêu tiền
th́ không thành vấn đề, nhưng nó chỉ thành
vấn đề nếu chấp trước vào tiền
tài của chư vị không bị loại bỏ
đi. Thậm chí nếu nhà
chư vị được xây bằng các viên gạch
bằng vàng, nhưng chư vị không để nó trong tâm
và không nghĩ nhiều về nó.
Chư vị làm đủ loại nghề trong khi
chư vị tu luyện giữa người
thường. Chư vị
làm ra tiền khi chư vị kinh doanh – nếu chư
vị không để nó trong tâm th́ có ǵ đâu? Nếu chư vị không nghĩ
nhiều về tiền và có hay không có th́ có ǵ quan trọng
đâu, chư vị đă vượt qua khảo nghiệm
này. Nhà chư vị có thể
bằng vàng – không sao cả.
Chúng tôi yêu cầu chư vị vứt bỏ cái tâm
chấp trước này. Tu
luyện không có nghĩa là từ bỏ vật chất. Chỉ có cách này th́ chư vị
mới phù hợp với tu luyện trong thế
tục. Nếu mọi
người tu luyện và không ai làm ǵ cả, xă hội này
sẽ sống bằng ǵ đây?
Điều đó là không
được. Chúng tôi
chỉ trọng cái tâm người, trực chỉ nhắm
vào cái tâm người, và thật sự giúp chư vị
đề cao tâm tính của chư vị, c̣n hơn là
buộc chư vị vứt bỏ mọi thứ. Chư vị phải minh bạch
là: lối tu luyện này khác với các đường
lối tu luyện truyền thống như thế nào. Nhưng chư vị sẽ
bị khảo nghiệm nghiêm khắc về mặt này,
để xem chư vị có c̣n các chấp trước
đó không.
C̣n
về những người tu đang tu luyện trong
Đại Pháp của chúng ta, đây là con đường
mà chúng ta chọn. Chư
vị cần loại bỏ các chấp trước
này. C̣n về các đệ
tử tu chuyên nghiệp trong tương lai, họ phải
mang bát và đi khất thực, đi chân trần, vân du
khắp nơi. Chỉ trải qua kinh nghiệm đủ
loại thống khổ trên cơi đời th́ họ mới
đạt Viên Măn được.
Các thầy tu sẽ tu luyện theo cách này trong
tương lai.
Nói
về thống khổ, tôi sẽ giảng cho chư vị
điều này: hễ mà
một người tu luyện, nhất định
họ sẽ kinh nghiệm thống khổ - họ sẽ
gặp thống khổ.
Những người tu luyện Đại Pháp có
phước, nhưng họ cũng phải có đau
khổ trong khi họ tu luyện – điều này là
khẳng định. Tuy nhiên
thường th́ khi con
người chịu một chút hay kinh nghiệm một chút
đau khổ, th́ họ xem đó là điều xấu. “Sao tôi cảm thấy không
khoẻ chỗ này chỗ kia?”
Nếu chư vị cảm thấy thoải mái
suốt đời, tôi có thể cho chư vị biết
rằng, chắc chắn chư vị sẽ xuống
địa ngục. Nếu
suốt đời mà chư vị không bị bệnh –
không nói chi tới được thoải mái suốt
đời – vào lúc chết chắc chắn 100 phần
trăm chư vị sẽ xuống địa
ngục. C̣n sống là c̣n
tạo nghiệp. Không thế
nào mà chư vị không tạo nghiệp, bởi v́ vừa
khi chư vị mở miệng ra có thể chư vị
đă làm tổn thương người khác rồi. Điều chư vị nói có
thể không cố ư tổn thương người ta: có
thể người ta không để ư điều chư
vị nói với họ, nhưng người khác nghe và
cảm thấy bị tổn thương. Trong khi con người sống,
những ǵ họ ăn là sinh linh, và thậm chí khi
bước đi họ sẽ dẫm lên các sinh linh và
giết chúng. Tất nhiên, chúng
tôi giảng rằng chư vị tạo nghiệp khi
chư vị sống trên thế giới này. Nếu chư vị không ốm
đau, nghiệp của chư vị sẽ không
được tiêu trừ.
Khi người ta đau đớn v́ bệnh,
nghiệp của họ thật sự đang
được tiêu trừ.
Chư vị cảm thấy khoẻ sau khi nghiệp
được tiêu trừ.
Thường th́ khi một người bị bệnh
nặng, và sau một thời gian, khi chư vị hồi
phục rồi, chư vị phát hiện sắc mặt
của chư vị sáng ra và tất cả những ǵ
chư vị làm được êm ả. Đó là v́ sau khi nghiệp của
chư vị được tiêu trừ, th́ nó
được chuyển hoá thành phúc – đức. V́ chư vị chịu khổ,
bất cứ điều ǵ chư vị làm thường
thường sẽ được êm ả và có thể hoàn
thành được dễ dàng.
Con người không thấy điều này, cho nên
họ nghĩ rằng: trải qua chỉ một chút
thống khổ là điều xấu. Thật ra, có ǵ mà phải sợ khổ
đến thế? Thậm
chí nếu chư vị chịu một chút khổ, nếu
ư chí của chư vị vững như thép và chịu
đựng được, sau đó chư vị sẽ
phát hiện tất cả những ǵ chư vị làm
sẽ tiến triển một cách khác rồi. Tôi nói rằng không có ǵ hơn là
những thống khổ mà người ta phải chịu
đựng khi tu luyện.
Nếu chư vị có thể vứt bỏ chấp
chước [về sợ khổ], chắc chắn chư
vị sẽ đạt Viên Măn.
Nói từ một góc độ cao hơn, nếu
chư vị có thể vứt bỏ được cái suy
nghĩ về sinh tử, chư vị thật sự là
Thần!
Phật
A Di Đà giảng rằng, niệm danh hiệu Phật
người ta có thể được văng sinh lên thế
giới Cực Lạc.
Điều đó làm sao được? Không thể hiểu lời
của ngài một cách nông cạn được. Sự thật, một
người niệm danh hiệu Phật có thể về
thế giới Cực Lạc, tuy nhiên con người
đă dịch lời của Phật một cách nông
cạn. Phật Pháp có hàm
nghĩa bên trong tại các tầng thứ khác nhau. Niệm danh hiệu Phật chính
là tu luyện. Chư vị
niệm măi cho đến khi trong tâm không c̣n ǵ ngoài chữ “A Di Đà Phật” – một
niệm thay thế vạn niệm – chư vị niệm
cho đến khi tâm trí hoàn toàn trống không, không có ǵ ngoài
chữ “A Di Đà Phật”. Trong khi niệm danh hiệu
Phật, chư vị sẽ bị nhiều chấp
trước và các chướng ngại đủ loại
can nhiễu chư vị – chư vị có chống lại
được không? Khi mà
buông bỏ được tất cả chấp
trước và tâm chư vị trống không, th́ đă
đạt được mục đích tu luyện
rồi. Việc chư vị
niệm danh hiệu Phật cũng là một cách diễn
đạt ḷng kính ngưỡng Phật. Chư vị niệm là v́ chư
vị muốn về thế giới Cực Lạc, nên
tất nhiên là Phật trong thế giới Cực Lạc
sẽ đến và lo cho chư vị, bởi v́ chư
vị tu Phật. Nó có hàm ư
thâm sâu trong này. Một số
người cho rằng một người có thể
đến thế giới Cực Lạc nếu họ
niệm danh hiệu Phật trước khi mất
đi. Nhưng khi làm
điều đó chư vị phải là như thế
nào? Khi chư vị thật
sự vứt bỏ được cái tư tưởng
về sinh tử ấy, th́ chư vị thật sự có
thể về nơi đó.
Đây là sự khác biệt giữa người và
Thần. Nếu chư vị
không vứt bỏ được sinh tử, th́ chư
vị là người – sự khác biệt là chỗ này. Chư vị tu và tu và vứt
bỏ tất cả các tâm chấp trước của con
người – chẳng phải chư vị sẽ vứt
bỏ được chấp chước về sinh
tử hay sao? Nếu một
người lập tức vứt bỏ được
tâm chấp trước về sinh tử, th́ họ có c̣n tâm
chấp trước nào khác nữa không? “Đă đắc được Pháp rồi, tôi không
c̣n sợ sinh tử và có thể từ bỏ mạng
sống của tôi.” Thế th́ c̣n ǵ để họ
chấp trước vào nữa không? Đó là cái ư này. Khi
sắp chết th́ người ta sợ ghê lắm, “Ồ!
Tôi sắp chết rồi.
Đây là hơi thở cuối cùng.” Cảm tưởng này là sao? Nhưng có người sắp
chết mà không sợ và môi họ vẫn niệm “A Di Đà Phật” – chư
vị nói xem chẳng phải họ sẽ về thế
giới Cực Lạc hay sao?
Từ bỏ tất cả mọi thứ, họ không
c̣n khái niệm sinh tử nữa.
Sự suy nghĩ của một người
được thiết lập trong một giai đoạn
dài tu luyện. Suy nghĩ
của người thường hết sức là phức
tạp và họ có chấp trước đủ loại. Trong tíc tắc sinh tử ấy
làm sao họ không sợ?
Đó là tôi vừa giảng “Đại
Đạo là chí giản chí dị” (Đại Đạo
là giản dị và dễ dàng nhất), rằng nhiều
điều rất đơn giản nhưng khi
được mổ xẻ và giải thích qua chi tiết
th́ phải bàn luận rất nhiều. Tuy thế, giả thử nếu trực
tiếp mà bảo chư vị, th́ chư vị cũng
không làm được, con người không lĩnh hội
được những ǵ tại các tầng thứ thâm sâu
như thế. Họ chỉ
hiểu từ bề mặt chữ nghĩa nông cạn
thôi. Đó là tại sao tôi
phải giảng Pháp cho chư vị.
Bản tiếng Anh:
http://www.falundafa.org/book/eng/lectures/1997L.html
Ghi
chú: [ ] (của người dịch, không phải văn
chính thức, chỉ để tham khảo)
Dịch ngày 28 tháng
01 năm 2008;
Hiệu chỉnh
ngày 14 tháng 02 năm 2008
Để
chỉnh nghĩa đúng hơn, bản dịch có thể
được hiệu chỉnh lại trong tương lai.
www.thuviendaiphap.com